Đề Xuất 2/2023 # Ý Nghĩa Sao Cự Môn Trong Tử Vi # Top 8 Like | Duanseadragon.com

Đề Xuất 2/2023 # Ý Nghĩa Sao Cự Môn Trong Tử Vi # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Ý Nghĩa Sao Cự Môn Trong Tử Vi mới nhất trên website Duanseadragon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Theo truyền thuyết phong thần, chủ nhân của sao Cự Môn trong tử vi chính là Mã Thiên Kim – người vợ cưới lúc tuổi giả của Khương Tử Nha

Sau khi Khương Tử Nha vâng mệnh thầy xuống núi Côn Lôn, ông đã mở một quán đoán mệnh trong thành Triều Ca để bói quẻ đoán số cho người. Một hôm, có hai vị tiểu thư đến nhờ ông bói quẻ giúp. Khương Tử Nha thoạt nhìn đã nhận ra đó là do hai tỳ bà tinh hoá thành để đến phá đám, liền tương kế tựu kế, bắt hai ả yêu nữ lại, rồi cùng Thừa tướng Tỷ Can giải chúng vào triều gặp Trụ Vương. Khương Tử Nha dùng lửa tam muội thiêu đốt khiến cho chúng phải hiện nguyên hình. Nhưng hai ả yêu tinh này lại chính là chị em đồng môn của Đát Kỷ, cư trú trong huyệt mộ Hiên Viên.

Tận măt chứng kiến cảnh chị em gặp nạn, Đát Kỷ hết sức căm hận, liền tìm lời sàm tấu với Trụ Vương, vu cho Khương Tử Nha dùng yêu thuật để lừa gạt mọi người. Trụ Vương vốn đã mê muội hồ đồ, lập tức hạ lệnh giết Khương Tử Nha. Nào ngờ trong chớp mắt Khương Tử Nha đã biến mất không còn dấu vết.

Sau đó, Khương Tử Nha bèn rời thành Triều Ca đi tìm kiếm người anh em kết nghĩa từ bốn mươi năm về trước là Tống Dị Nhân, sau cùng hai anh em đã gặp gỡ tại Mạt gia trang. Từ đó, Khương Tư Nha ở lại cùng anh kết nghĩa. Một hôm, Tống Dị Nhân nói với Khương Tử Nha rằng: “Huynh đã tìm cho đệ một đám rất được, mong đệ có thể thành gia lập thất lúc tuổi già!”

Khương Tử Nha nghe vậy hết sức kinh ngạc, nhưng lại không tiện từ chối thịnh tình của anh kết nghĩa, nên chẳng biết phải nói gì. Mấy hôm sau, Tống Dị Nhân vui vẻ nói với Khương Tử Nha rằng: “Sính lễ đã đưa qua rồi. Đám này là thiên kim tiểu thư của Mã viên ngoại chủ nhân Mã gia trang, năm nay đã sáu mươi tám, vẫn chưa xuất giá. Hôn sự như vậy đã định đoạt xong!”

Sau khi hôn lê đã cử hành, Mã Thiên Kim thấy Khương Tử Nha suốt ngày nếu không ngồi trầm tư thì một mình luyện võ, đánh cờ, không hề quan tâm đến sự tồn tại của mình, thì rất ấm ức, thường xuyên than vãn. Hàng tháng trời sau đó, tình cảm giữa hai người vẫn hết sức lạnh nhạt. Mã Thiên Kim ngày thêm buồn bực, bắt đầu phàn nàn, trách móc, thậm chí cãi cọ với Khương Tử Nha. Nhưng Khương Tử Nha chẳng buồn để ý đến bà, cũng không đáp lại nửa lời. Giằng co như vậy suốt ba tháng, hai người bèn ly dị.

Nhiều năm sau đó, khi Mã Thiên Kim biết tin Khương Tử Nha đã trở thành trụ cột triều đình, quyền cao chức trọng nức danh thiên hạ, cảm thấy vô cùng hổ thẹn, bèn tìm đường tự vẫn. Hồn phách Mã Thiên Kim bay đến đài Phong Thần, được phong làm chủ nhân của sao Cự Môn.

Cự Môn tức cổng lớn, chỉ cung điện nơi Mã Thiên Kim cư trú có cánh cổng to lớn khác thường, khác hẳn những cung điện khác, ngụ ý miệng lưỡi thị phi cũng như cánh cổng lớn, mở thông thống không cần che giấu, gieo rắc điều tiếng thị phi khắp nơi, đắc tội với người khác mà bản thân không hay biết. Bởi vậy, trong Tử Vi Đẩu số, Mã Thiên Kim là nhân vật đại diện cho thần thị phi.

Bình Giải Ý Nghĩa Sao Cự Môn

Sao Cự Môn trong tử vi thuộc Âm Thủy, sao thứ hai của chòm Bắc Đầu, trong Đẩu số chủ về thị phi, ám muội, hóa khí của nó gọi là Am, còn có tên khác là Cách Giác Sát. Theo Tử Vi Khoa Học được biết thì sao Cự Môn là sao gì thì Cự Môn là sao của âm tinh, ở thân mệnh chủ về chuyện kháu thiệt thị phi trong đời, lục thân ít hợp, khuôn mặt vuông và dài, tính đa nghi, giỏi lừa đảo, dối trá, làm việc tiến thoái không chừng, ưa lật lọng, giao thiệp với người ta mới đầu thiện cuối cùng ác. Học nhiều nhưng không tinh, nói năng tùy tiện, vô trách nhiệm, thích khoác lác, suốt đời phải lao tâm nhiều, khẩu tài tốt, ánh mắt sắc bén, có tinh thần nghiên cứu rất mạnh mẽ, quan sát kỹ lưỡng, thấu hiểu sâu, trí nhớ tốt. Nếu tại hai cung Thìn Tuất là hãm địa thì làm việc lộn xộn, bừa bãi, trong cung nếu có thêm tứ Sát thì nội tám từng bị tình yêu hành hạ và gây thương tổn, bị người ta bêu riếu. Trong nữ mệnh nếu gặp miếu địa thì người sinh năm Quý, tận hưởng phúc, có thêm Tả Hữu thì trường thọ. Gặp hãm địa thì thương phu khắc tử. người sinh năm Đinh thì sinh hoạt dục rất bừa bãi. Đồng cung với Sao Thiên Cơ tuy phí quý nhung không tránh khỏi dâm loạn, thích hợp làm vợ lẽ, nếu cùng với Dương Đà thủ thân mệnh thi tất phải luân lạc phong trần

– Sao này ở cung phúc đức thì lục thân đều bất lợi. ở cung huynh đệ thì cốt nhục chia lìa. ơ cung phụ mẫu thì cha con, mẹ con không thuận nhau. Ở cung tử tức thì con cái chết non. ở cung phu thê thì vợ chồng thường cãi nhau, dù sống với nhau đến răng long đầu bạc cũng không tránh khỏi ô danh thất tiết, ở cung nô bộc thì làm cho người ta phỉ báng, oán hận. Ở cung quan lộc, thì thích hợp làm canh sát, quân cảnh, quan tòa, ngành xuất bản, ngành in, mà cũng dễ xảy ra tranh chấp với người khác. Ở cung tài bạch thì nhờ tài ân nói mà ra tiên, gặp nhiều cạnh tranh về mặt tài chính, tay trắng làm nên phát tài. ở cung điền trạch, trước tiên bán tài sản tổ tiên để lại.

– Sao Cự Môn hãm địa, đi đâu cũng chẳng làm được gì, hạp nhất là miếu vượng, ắt có phú quý, càng hạp với người sinh năm Quý vì sao này hóa Quyền, tài quan đều đẹp, nếu có Sao Lộc Tồn đồng cung, có thể giảm đi tính xâu của nó. Nếu tại hãm địa, gặp Tứ sát thì trai trộm cắp, gái kỹ nữ. Nếu có Sao Hỏa Tinh, Linh Tinh, Sao Bạch Hổ đồng cung ắt bị cảnh sát bắt. Đại tiểu hạn tại hãm địa gặp sao này lại có thêm sát tinh thì chủ về tranh cãi, kiện tụng, có tang, phá tài, đều do số cô độc, thần thái khắc bạc, nếu làm sư tăng, đạo sĩ mới thoát hung tai.

– Sao Cự Môn cung tật ách thì chủ về viêm khí quản, hen suyễn, tỳ vị không tốt, nội nhiệt quá nặng, tê thấp, chàm, hắc lào, bệnh ngoài da, tật về mắt. Lúc còn nhỏ bị viêm da do dị ứng, tuổi trưởng thành thì bị chứng dị ứng phấn hoa. Nếu đồng cung vối sao Dương Nhẫn, Hỏa Tinh, sẽ bị viêm gan do uống rượu quá nhiều, bệnh về đường sinh lý, bí tiếu, bệnh về tai.

– Sao này ở cung điền trạch, chủ gặp nhiều chuyện thị phi, khó gặp láng giềng tốt, cửa nẻo không an toàn, thường cãi nhau với hàng xóm Nếu ở gần có ống dẫn nước, sông rạch, mạch nước ngầm, giêng, ngõ hẹp, tường sập, ống khói, cầu tàu lửa đều được luận là hung.

1. Vị trí Sao Cự Môn trong cung mệnh ở các cung

− Miếu địa: Mão, Dậu.

− Vượng địa: Tý, Ngọ, Dần

− Đắc địa: Thân, Hợi

− Hãm địa: Thìn Tuất, Sửu Mùi, Tỵ.

− Về cơ thể, Cự Môn là cái miệng. Nếu gặp Hỏa hay Linh thì miệng méo.

Dù đắc địa hay hãm địa, Mệnh có Cự Môn thì “thân hình đẫy đà, thấp, da trắng, mặt vuông vắn, đầy đặn, mắt lộ” (Thái Thứ Lang, Tử – Vi Đẩu số, trang 222) sách cũng không nói rõ đặc tính về miệng.

− Thông minh, có khả năng phán xét tinh vi.

− Nhân hậu.

− Mưu trí.

− Có tài hùng biện. Đây là một đặc tính trội nhất.

Càng đi chung với nhiều sao chỉ về ngôn ngữ, năng khiếu này càng sắc bén. Chẳng hạn như đi với Sao Hóa Khoa, Xương, Khúc, Sao Thái Tuế, Sao Lưu Hà thì có tài diễn thuyết, nói năng lưu loát, hùng hồn, đanh thép, có sức thu hút cử tọa: Đây là ưu điểm nổi nhất của các luật sư, chính trị gia, giáo sư, người sách động quần chúng (meneur d’hommes).

Do 2 đặc điểm mưu lược và tài ăn nói trên, người có Cự Môn tọa thủ ở Mệnh có những năng khiếu:

− Về chính trị.

− Về tư pháp, ngoại giao.

Đó là những người ham thích hoạt động chính trị, có óc và có tài lãnh đạo quần chúng, vận động đám đông, có thủ đoạn tổ chức và hoạt động, nhất là khi đi kèm với các sao chủ về chính trị, tư pháp như Tang, Hồ, Thái Tuế, Quan Phù, Khốc, Hư. Thành thử, khi khảo sát sao Cự Môn ở mệnh, phải lưu tâm đến sự hội tụ của các sao khác đồng nghĩa để quyết đoán mức độ của ý nghĩ trên. Đặc biệt, sao Cự Môn có 2 vị trí rất đẹp ở Tý và Ngọ chỉ họa lực học rộng, tài cao, đồng thời với đức độ. Đây là Cách “Thạch Trung Ẩn Ngọc” (ngọc dấu trong đá) một cung cách của nho phong hiền triết.

Tuy nhiên, muốn đắc thời phải có một trong những điều kiện:

− Hóa Lộc đồng cung;

− Tuần, Triệt án ngữ;

− Đại Tiểu Hao đồng cung.

Người đắc cách này rất rực rỡ về tài, đức, phú, quí. Nếu không được 1 trong những điều kiện trên,

hoặc là phải đồng cung với Lộc Tồn thì là người đa học, đa năng, nhưng không gặp thời.

− Kém thông minh, hay nhầm lẫn.

− Ăn nói vụng về, khoác lác nên hay bị miệng tiếng, cãi vã. Đây cũng là một đặc tính nổi bật.

− Không thích giao thiệp, ít bạn bè. Về điểm này, Cự Môn giống đặc tính của Sao Cô Thần, Quả Tú, Đẩu quan.

− Hay thay đổi thất thường (giống như Sao Hóa Kỵ).

− Đa nghi.

− Gian quyệt, tham lam.

− Bất đắc chí, bất mãn.

Riêng đối với phái nữ, còn có thêm ý nghĩa:

− Điêu ngoa lắm điều.

− Đố kỵ, ghen tuông.

− Đa dâm.

Như vậy, Cự Môn hãm địa là một ám tinh theo nhiều nghĩa, về tinh thần cũng như về đạo đức, cho nên còn được gọi là Cự Ám hay Ám Không. Tuy nhiên, có ngoại lệ với 2 tuổi Quí và Tân. Gặp 2 tuổi này dù Cự Môn có hãm địa, những tính xấu kể trên bị giảm nhẹ đi nhiều, đặc biệt là có óc thông minh.

Nếu đắc địa, Cự Môn chỉ giàu sang, có uy danh. Đàn bà thì tài giỏi, đảm đang, lợi chồng.

Nếu hãm địa, thì vất vả, khổ sở, nhất là khi Cự Môn tọa thủ ở Thìn Tuất.

Tuy nhiên, có ngoại lệ đối với 2 tuổi Quí và Tân gặp Cự Môn hãm địa ở Thìn Tuất và 2 tuổi Ất,

Bính gặp Cự Môn hãm địa ở Sửu Mùi. Trong 4 trường hợp này thì hiển đạt, khá giả.

+ Nếu đắc địa, Cự Môn có ý nghĩa phúc thọ. + Nếu hãm địa, ý nghĩa xấu rất nặng nề.

− Hay bị khẩu thiệt, miệng tiếng.

− Hay bị kiển cáo, tù tội.

− Hay bị tai nạn.

− Hay bị bệnh nan y. Thái Thứ Lang cho rằng bệnh này ở mắt (?) hay ở bộ phận sinh dục.

− Yểu tử, nếu không bỏ quê nhà tha phương cầu thực.

− Đàn bà thì khắc chồng hại con.

+ Ở đây, cũng có trường hợp ngoại lệ đối với 4 tuổi Quí, Tân và Ất, Bính: trong trường hợp này, tai họa sẽ chiết giảm đi nhiều.

+ Tuy nhiên, Cự Môn rất kỵ sao Hóa kỵ, dù là Cự Môn đắc địa. Nếu hai sao đồng cung sẽ gặp nạn chết đuối đụng xe hau tai nạn trinh tiết.

Ngoài ra, Cự Môn hãm địa còn rất kỵ thêm các sát tinh (như Kình, Đà, Không, Kiếp, Linh, Hỏa) và hình tinh (như Thiên hình): tai họa bệnh tật rất nặng và thường phải yểu tử và chết thảm.

a) Những bộ sao tốt khi phân tích sao Cự Môn

− Cự, Nhật đồng cung ở Dần:

Vinh hiển và danh giá suốt ba đời (ông, cha, mình). Nếu ở Thân thì không bằng ở Dần, chỉ khá giả

mà thôi, trước có công danh, sau mới có tiền bạc.

− Nếu thêm Quyền, Phượng:

Sự tốt đẹp tăng thêm. Tuy nhiên nếu gặp Lộc Tồn thì lại xấu, suốt đời bất đắc chí.

− Mệnh cũng Cự Nhật đồng cung chiếu:

Cũng được tốt đẹp như Cự, Nhật tọa thủ.

− Cự Cơ ở Mão và Dậu:

Có quan chức lớn, tài lộc dồi dào (tại phú). Ở Dậu thì kém hơn ở Mão. Đặc biệt bốn tuổi Ất, Kỷ,

Tân thì càng thịnh đạt và cả hai mặt phú và quí.

− Nếu có thêm Đại, Tiểu, Hao:

Rất giàu có và uy quyền danh tiếng lừng lẫy, nhưng tính tình phóng đãng, ăn tiêu hoang phí.

− Cự Khoa ở Thìn Tuất:

Có biệt tài về ăn nói, có khả năng du thuyết.

− Tuổi Tân, Mệnh ở Tứ Mộ, Cự tọa thủ:

Vẫn khá giả dù Cự hãm địa. Nếu thêm Tả, Hữu, tai họa bị chiết giảm đi nhiều, dù cho Hóa kỵ

đồng cung.

b) Những bộ sao xấu khi phân tích sao Cự Môn

− Cự hãm, Kình, Đà:

Người yếu đuối, bị bệnh nan y. Nếu không bệnh thì trộm cắp, đàng điếm, phá hoại, nữ thì lăng

loàn.

− Cự Hỏa Linh:

Rất xấu, có thể bị chết thảm nếu hạn xấu.

− Nếu thêm Kình hay Đà:

Có thể tự tử bằng cách tự trầm hay thắt cổ. Nếu không chân tay bị tàn tật, phỏng nặng.

− Cự ở Tý Ngọ gặp Lộc Tồn đồng cung:

Có học, có tài nhưng bất đắc chí vì không gặp thời.

− Cự ở Hợi Tý gặp Lộc Tồn đồng cung:

Không phát huy được tài năng, dù được Lộc Quyền hội họp. Đây là trường hợp một người có cao vọng nhưng bất toại chí.

− Nữ mệnh có Cự kỵ:

Con gái thì thất trinh, đàn bà thì thất tiết.

− Cự Tham Hao:

Bị tù tội

” “

8. Ý nghĩa Sao Cự Môn trong tử vi ở các cung

Nam mệnh có Sao Cự Môn tọa thủ cung phu thê, thi nen kêt hôn t với người phụ nữ có tuổi nhó hơn mình từ 10 (lên 20, thậm chí 30 tuổi thì vô cùng hạnh phúc. Nêu kết hôn với người cùng tuối thi Ị cũng rất lý tưởng. Chỉ có kết hôn với người gần băng tuôi mình thi vợ chồng ắt bất hòa, thậm chí vì tiền bạc mà buồn phiền, cuối cùng không thế’ hàn gắn. Hơn nữa cũng nên kết hôn muộn, vợ là người nội trợ tốt, nhưng là một người phụ nữ lắm lời.

Nữ mệnh thì lấy chồng lớn hơn khoảng 20 tuổi mới có thề hưởng thụ hạnh phúc, gia đình tốt dẹp. Chồng có tính tình khôn ngoan, hay ghen, nhưng mưu kế sâu sắc, quả đoán, có khí phách.

8.11 Ý nghĩa Cự Môn tại cung Phúc Đức

Ý Nghĩa Sao Thái Âm Trong Tử Vi

Nàng Giả thị, vợ của thủ lĩnh cấm vệ quân Vũ Thành Hầu Hoàng Phi Hổ vốn là người nhân hiền thục, đức hạnh đảm đang, được người cả nước biết tiếng khen ngợi. Sao Thái Âm trong tử vi được lấy từ hình tượng Giả phu nhân.

Theo quy tắc của triêu đình, vào dịp tết Nguyên đán, bá quan văn võ phải nhập cung chúc mừng Thiên tử, còn phu nhân của các quan cũng phải đến hậu cung chúc mừng Hoàng hậu. Tết Nguyên đán năm Trụ Vương thứ 21, Giả thị cùng phu quân Hoàng Phi Hổ đều nhập cung chúc Tết.

Đát Kỷ lúc này đã là Hoàng hậu. Từ khi các chị em đồng môn trong huyệt mộ Hiên Viên bị Tỷ Can và Hoàng Phi Hổ thiêu chết, Đát Kỷ vẫn luôn ôm hận trong lòng, rắp tâm chờ thời cơ báo oán. Tuy Tỷ Can đã chết, nhưng Hoàng Phi Hổ vẫn là cái gai trong mắt ả. Thời cơ rốt cục cũng đã đến. Khi các đại thần đều tập trung tại điện Hiên Khánh dự yến, các vị phu nhân cũng rủ nhau đến chúc mừng Hoàng hậu. Đát Kỷ liền kiếm cớ giữ Giả phu nhân ở lại hàn huyên. Một lát sau, Trụ Vương tàn tiệc quay về, thấy Giả phu nhân xinh đẹp hơn người, thì nổi lòng tham dục, bèn gọi Giả phu nhân đến tiếp rượu. Thấy tình hình có vẻ bất thường, Giả phu nhân vội vàng xin phép cáo lui.

Nhưng Đát Kỷ và Trụ Vương đều không buông tha, nhất định bắt Giả phu nhân phụng mệnh. Giả phu nhân thấy Trụ Vương tham dâm hiếu sắc, phóng túng đến mức độ đó thì giận dữ không kìm nén được mà mắng rằng: “Nhà vua không nhìn vợ bề tôi, đây vốn là quy tắc trong cung. Thân là vua một nước, sao có thể tuỳ tiện vi phạm quy định? Huống chi phu quân của tôi vốn tận tâm, tận lực với quốc gia, không tiếc thân mình lập bao công lao cho giang sơn của ông. Nay nhà vua lại đi nghe lời xúi bẩy của Đát Kỷ mà làm nhục vợ của bề tôi, chẳng phải là kẻ hôn quân ư? Rồi hai người sẽ không có được kết cục tốt đẹp!”.

Nói rồi bà cầm chum rượu ném vào mặt Trụ Vương. Trụ Vương nổi cơn thịnh nộ quát gọi vệ sĩ bắt Giả phu nhân lại. Giả phu nhân quát: “Ta không phạm vương pháp, kẻ nào dám bắt ta!”. Rồi than rằng: “Phu quân, thiếp vì chàng mà bảo toàn danh tiết!”. Nói xong liền lao người qua lan can, gieo mình xuống lầu Trích Tinh tuẫn tiết.

Tây cung Hoàng phi (là em gái của Hoàng Phi Hổ) biết chị dâu vào cung vấn an, nhưng mãi không thấy đến gặp, trong lòng lúc một bồn chồn. Đang lúc trông đợi, thì có người vào báo Giả phu nhân đã gieo mình xuống lầu Trích Tinh để bảo toàn danh tiết. Tây cung Hoàng phi nghe tin hết sức bàng hoàng, nhưng vẫn đủ tỉnh táo để đoán rằng chuyện này ắt hẳn có bàn tay của Đát Kỷ, bèn đích thân đến lầu Trích Tinh tìm hiểu.

Sau khi biết rõ thực hư, Tây cung Hoàng phi bèn tìm lên lầu chỉ mặt vua Trụ mắng rằng: “Anh trai tôi Hoàng Phi Hổ hết mình bảo vệ giang sơn cho ông! Cha tôi cũng vì ông mà ngày đêm trông giữ ải Giới Bài. Vậy mà kẻ hôn quân như ông lại không biết giữ lễ, tham dâm hiếu sắc, lăng nhục vợ của bề tôi, bức Giả phu nhân đến chỗ chết! Rồi ông biết ăn nói ra sao với Hoàng tướng quân đây?”

Rồi lại mắng Đát Kỷ: “Ngươi mê hoặc nhà vua, nay lại xúi bẩy làm hại chị dâu ta!”. Rồi không kìm chế được nỗi tức giận, bà lao về phía Đát Kỷ, đẩy ả ngã lăn xuống đất, rồi tay đâm tay tát liền mấy chục cái.

Trụ Vương cũng biết mình quá đáng, bèn chỉ đến khuyên can tách hai người ra. Nhưng Hoàng phi đang trong cơn giận dữ, lỡ tay đánh lầm vào mặt Trụ Vương. Bản tính hung bạo nổi lên, Trụ Vương một tay túm tóc, một tay túm áo Hoàng phi, nhấc bổng bà lên ném từ trên lầu cao xuống, tan xương nát thịt.

Hoàng Phi Hổ đợi mãi không thấy phu nhân trở ra, thì quay về phủ trước chờ đợi. Đang lúc đứng ngồi không yên, thì thị nữ hớt hải chạy đến báo tin: “Phu nhân vì bảo toàn danh tiết, đã nhảy xuống lầu Trích Tinh tự vẫn. Hoàng phi nương nương cũng đã bị nhà vua ném xuông dưới lầu!”. Hoàng Phi Hổ nghe tin chết đứng, căm giận đến cực điểm, liền thống lĩnh toàn bộ gia tướng và binh lính, rời khỏi Triều Ca, đầu quân về với Tây Bá hầu Cơ Xương.

Hồn phách của Giả phu nhân bay đến trước đài Phong Thần. Do bà một đời thanh khiết, hiền thục, lại tuẫn thân vì bảo toàn danh tiết, nên được phong làm chủ nhân sao Thái Âm, chủ về nhân từ, hiền thục, đức hạnh, danh tiết. Thái Âm là một trong 14 Chính Tinh trong Lá số Tử vi, sao thứ 2 trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân. Thái Âm là phú tinh nên có nhiều ý nghĩa tài lộc nhất.

Sao Cự Môn – Minh Tranh Ám Đấu – Khẩu Thiệt Thị Phi

Sao Cự Môn có tượng là cái Miệng. Chủ về lời nói, tranh chấp. Cự Môn vượng thì lời nói đanh thép. Cự Môn hãm thì khẩu thiệt thị phi.

Cự phùng Dương miếu tốt thay

Thăng quan tiến chức vận lành mừng vui

Ý nghĩa Sao Cự Môn

Sao Cự Môn là sao thứ 2 trong Bắc đẩu thất tinh. Cự Môn thuộc thủy (có thuyết cho rằng Thủy đới Kim). Là sao thiên về Âm tính. Bởi thế, hóa khí của Cự Môn là Ám tinh (che ám). Nhập Thân Mệnh là Hung tinh, chủ về thị phi khẩu thiệt, chính vì vậy mà phú mới viết rằng “Cự Môn định chủ thị phi”.

Nhưng phàm là chính tinh, thì kiểu gì cũng phải có uy lực, tức là cũng phải có mặt tốt. Một trong những cái tốt của Sao Cự Môn là lợi tài, lợi cho việc tranh đoạt, hoạt ngôn đa ngữ. Bởi Sao Cự môn được coi là thần chuyên trông coi về Phẩm chất của vạn vật. Tức là chuyên về nhận xét cái tốt, cái xấu của vạn vật. Cho nên mới gán cho nó cái tiếng “Thị Phi”. Cũng chính vì điểm này mà phát sinh nhiều quan điểm chưa được đánh giá đúng mức về Sao Cự Môn.

Cự Môn Miếu ở Mão Dậu

Vượng ở Tý Ngọ Dần

Đắc Địa ở Thân Hợi

Hãm Địa tại Thìn Tuất Sửu Mùi Tỵ

Luận về Sao Cự Môn thì có 2 tính chất đại biểu rất quan trọng đó là “Khẩu thiệt thị phi” và “Minh tranh ám đấu”.

Khẩu Thiệt Thị Phi

Minh Tranh Ám Đấu

Minh tranh ám đấu, tức là nói đến cái sự tranh giành quyết liệt ! Điều này cũng không có gì là lạ, khi ngôn ngữ giảo hoạt, hùng biện, thì không dễ gì chịu lùi bước. Phàm đã là chuyện tranh cãi thì đương nhiên cần phải cọ sát đề giành phần thắng. Nhưng cũng còn kèm theo 1 nghĩa nữa cần để ý, đó là cái tính không chịu nhường nhịn. Khi xảy ra tranh giành thường quyết liệt, khó lòng kiềm chế bản thân. Và cũng chính vì thế mà mắc cái tiếng “thị phi”. Hai tính chất này có quan hệ hữu cơ với nhau, cần chú ý khi luận đoán.

Cũng như nguyên tắc thông thường, khi luận về tinh diệu thì cái sự Miếu-Hãm là vô cũng quan trọng. Bởi cũng một tính chất như thế, nhưng Miếu thì khả dụng, mà Hãm thì sinh tai.

Cự môn Miếu ở Mão Dậu, Vượng ở Tý Ngọ Dần, đắc địa ở Thân Hợi. Đều là những đất tốt có thể làm cho cái tính “thị phi” “tranh đoạt” trở thành hữu dụng. Chủ về uy quyền, tài lộc. Còn những đất hãm của Cự Môn là Thìn Tuất Sửu Mùi Tỵ. Chỉ chuyên về thị phi chiêu oán, quan phi kiện tụng.

Sao Cự Môn ở Cung Mệnh

Sao Cự Môn miếu vượng là người có tài ăn nói, giỏi thuyết khách hùng biện, thuyết phục người khác, lời nói đanh thép…

Sao Cự Môn Hãm địa chủ người ưa thị phi cãi cọ

Trong Tử Vi Đẩu Số, cổ nhân viết về Sao Cự Môn như sau : “Tại thân mệnh nhất sinh chiêu khẩu thiệt chi phi.

Tại huynh đệ tắc cốt nhục tham thương.

Tại phu thê chủ vu cách giác, sinh ly tử biệt, túng phu thê hữu đối, bất miễn ô danh thất tiết.

Tại tử tức tổn hậu phương chiêu, tuy hữu nhi vô.

Tại tài bạch hữu tranh cạnh chi ý.

Tại tật ách ngộ hình kỵ, nhãn mục chi tai, sát lâm chủ tàn tật

Tại thiên di tắc chiêu thị phi.

Tại nô bộc tắc đa oán nghịch.

Tại quan lộc chủ chiêu hình trượng.

Tại điền trạch tắc phá đãng tổ nghiệp.

Tại phúc đức kỳ họa sảo khinh.

Tại phụ mẫu tắc tao khí trịch.

Nghĩa là :

Tại Thân Mệnh một đời chiêu khẩu thiệt thị phi.

Tại Huynh Đệ thì anh em chợ búa với nhau.

Tại Phu Thê thì chủ về chia cách, sinh ly tử biệt, không khỏi ô danh thất tiết.

Tại Tử Tức thì không có hậu, tuy có mà như không.

Tại Tài Bạch thì ắt có sự tranh giành.

Tại Tật Ách mà gặp Hình kỵ, mắt có tật, thêm sát tinh mà lâm vào thì chủ tàn tật.

Tại Thiên Di thì ứt chiêu thị phi.

Tại Nô Bộc ắt là nhiều oán nghịch.

Tại Quan Lộc chủ về gặp hình trượng (pháp luật).

Tài Điền Trạch thì phá đãng tổ nghiệp.

Tại Phúc Đức họa không phải là nhỏ.

Tại Phụ Mẫu thì dễ bị bỏ rơi.

Xem như trên thì thấy rằng trong 12 cung địa bàn. Sao Cự Môn dù đóng chỗ nào cũng đều không có chỗ tốt. Nếu nhận xét như thế thì cũng có phần khắt khe quá. Bởi như đã nói, còn phải căn cứ vào xem Miếu Hãm thế nào. Đến như Trần Đoàn lão tổ cũng còn phải nhận xét “Chí Hợi Dần Tị Thân, tuy phú quý diệc bất nại cửu”. Tức là tại Dần Thân, Hợi Tỵ tuy có phú quý mà không bền.

Khi Sao Cự Môn nhập Thân mệnh, Trần Đoàn lão tổ nhận xét

Chưởng chấp thị phi, chủ vu ám muội, nghi thị đa phi, khi man thiên địa, tiến thối lưỡng nan. Kì tính tắc diện thị bối phi, lục thân quả hợp, giao nhân sơ thiện chung ác.

Tức là : “Nắm cái sự đúng sai trong tay, mà lại chủ về ám muội, đúng thì nghi ngờ, mà nhiều điều sai trái. Khinh dối cả đất trời, tiến thoái đều khó. Về Tính thì trước mặt bảo đúng mà sau lưng bảo sai, không hợp với lục thân, giao kết với người thì ban đầu thiện mà về sau ác”.

Sở dĩ trong 12 cung, Sao Cự Môn không được cung nào tốt. Bởi chính tại cái tính “khẩu thiệt thị phi” “minh tranh ám đấu” mà ra cả. Ta cũng phải nhìn nhận cho rõ, tính này có thể lợi ngoài xã hội nhưng với lục thân gia đình thì tuyệt nhiên không hợp. Bởi thế mới nói “Lục thân quả hợp – Không hợp với người thân”.

Nhưng ngoài những đặc tính trên, thì Sao Cự môn cũng chủ về Tài khí. Vì bản thân Sao Cự môn là ngôi thứ 2 trong Bắc đẩu thất tinh. Trong các môn thuật số khác thì Cự Môn được coi là Thiên Y, chủ về vật chất. Cho nên mới nói Cự Môn lợi tài. Nhưng cũng cần phải chú ý, cái Lợi về Tài của Cự là do hệ quả của 2 tính chất trên mang lại. Chứ tuyệt không phải là trực tiếp từ tính chất mà có giống như các Tài tinh khác. Vì thế mà chỉ dám nói là Lợi Tài, mà cổ nhân không dám phê là Tài Tinh.

Về Mệnh số con người, dù thế nào đi nữa, nhưng khi có Sao Cự môn nhập vào Mệnh Thân, ắt sẽ không thể toàn vẹn. Bởi kể cả khi nhập Miếu cũng chỉ là Hư Cát. Cuộc đời ít nhiều sẽ có nhưng điều không được mỹ mãn, đặc biệt là trong quan hệ gia đình. Hơn thế nữa, vận trình cuộc đời ắt sẽ thăng trầm, ít nhất phải qua gian khó một thời mới mong thành nghiệp. Luận về chỗ này, cổ nhân chỉ có một câu “kinh lịch gian tân”. Tùy thời xử thế, nên hay không là ở chỗ có Hợp hay không. Tinh diệu thì vốn có Miếu Hãm, mà sự đời thì cũng có Đắc Thất. Quy luật vận hành của tinh diệu cũng là quy luật vận hành của đời người. Muốn biết được thì nên xem xét cái chu kỳ vận hành của Sao Cự Môn và chòm Bắc đẩu trên 12 cung ắt sẽ sáng tỏ.

Có người hỏi, Cự môn nhập mệnh có phải là kẻ học giỏi không? Chúng ta nhìn vào cách Hóa của Cự Môn. Thấy Cự không hóa Khoa. Thường cái sự khoa bảng của Cự phần lớn đem lại ở tá tinh. Chứ tuyệt nhiên bản thân Cự không phải là sao học vấn. Nếu ai đó cho rằng Cự Môn là sao học vấn thì không đúng. Không nên nhầm danh tiếng với học vấn. Có thể nổi danh, nhưng bằng cấp thì lại là câu chuyện khác. Vậy, người Cự Môn mà muốn thành danh trong học nghiệp, nhất định không thể rời xa bọn Văn tinh Quý tinh. Nhưng khổ nỗi, khi Cự hội được bọn văn tinh, thì dễ thành nhà mô phạm, lại không có lợi cho tiền tài. Cho nên ở một phương diện nào đó, nếu lưỡng toàn cả hai, thì cần hội hợp được cả đám Quý tinh và Hình Tướng Ấn. Thì có thể làm đắc dụng cái ngôn ngữ của Cự Môn mà ra xã hội tranh giành lấy phú quý công danh.

Mệnh Cự Môn tại Hợi

Riêu Đà Kỵ – Bộ Tam Ám nổi tiếng

Sao Cự Môn nằm trong nhóm Ám tinh, nhưng khi gặp đủ bộ Tam Ám Riêu Đà Kỵ thì lại tối kỵ. Vì Sao Cự Môn thuộc Thủy mà gặp Tam Ám thì rất dễ bị tai nạn sông nước. Nếu như không đủ bộ Tam Ám mà chỉ gặp Hóa Kỵ – Người ta còn gọi là cách Cự Kỵ – là cách Ngọc điểm hà tỳ – Ngọc lành có vết. Nên gặp cách này thì cũng hay gặp họa.

Đây là cách cục rất hay khi Sao Cự Môn cư Tý, Ngọ, hội hợp được với cát diệu

Cự Cơ Mão Dậu còn gọi là cách Cơ Cự Đồng Lâm. Cách này lợi tài nhưng gia đạo thường không được yên ổn

Thái Dương Cự Môn – Cự Nhật Dần Thân Cách

Cự Nhật Dần Thân cũng là một cách cục nổi tiếng. Cự Nhật Dần Thân có 2 thái cực (Chỉ được 1 cái, cái này đến trước thì khỏi cái kia)

Tiên Khu Danh Hậu Thực Lộc

Tiên Thực Lộc Hậu Trì Danh

Sao Cự Môn tương phối Lục Sát – Lục Cát

Như đã phân tích ở các phần trước về tính lý của Sao Cự môn. Đành rằng là có các cách cục khác nhau. Nhưng sâu hơn chút nữa, thì ta có thể thấy rằng các cách của Sao Cự Môn đều chịu ảnh hưởng rất nhiều của các tá diệu. Cho nên, xem xét việc Sao Cự môn tương phối với các tá diệu cũng là một kỹ thuật cơ bản để luận đoán các cách cục của Cự Môn.

Cũng theo nguyên tắc thông thường của Tử vi. Các cách cục của Sao Cự Môn tập trung tính chất ở hai đặc điểm chính

Sự Miếu Hãm của chính tinh.

Sự hội hợp của tá tinh – hóa diệu.

Việc miếu hãm thì chắc không phải bàn nữa. Bởi nó đã thể hiện trong cách cục của Cự Môn rồi. Còn sự hội hợp của tá tinh, hóa diệu thì cũng theo một nguyên tắc chung là “phùng cát dã cát, phùng hung dã hung”. Gặp được sao tốt thì là tốt, mà gặp được sao hung thì là hung. Có thể phân tích các trường hợp cụ thể như sau:

Hóa diệu: Hóa diệu là Lộc Quyền Khoa Kỵ. Sao Cự Môn rất cần Khoa Quyền Lộc hội hợp để thành cách. Nhưng lại rất ngại Hóa Kỵ che ám (trừ một vài trường hợp đặc biệt được gọi là Phản vi kỳ cách).

Chẳng thế mà các câu phú đều tập trung vào việc xem xét sự hội hợp của Hóa diệu với Cự Môn. Điển hình như

“Cự môn Thìn Tuất vi hãm địa, Tân nhân hóa cát lộc tranh vinh”

Tức là Sao Cự Môn ở Thìn Tuất vốn là đất hãm sẽ không tốt. Nhưng người tuổi Tân thì gặp được Cát Hóa, tài lộc sẽ rất khá.

Như đã dẫn, ngay như cách Thạch Trung Ẩn Ngọc. khi Sao Cự Môn phối với các tá diệu, hóa diệu thì:

Gặp Quyền (hoặc) Lộc là Thượng cách

Gặp Lộc tồn là Thứ cách.

Không có Lộc tồn, chẳng có Hóa cát là tầm thường.

Các sao, các hóa đặc biệt thích hợp với Cự môn là Hóa Lộc, Hóa Quyền, Lộc Tồn. Cổ thư viết:

“Nhược đắc lộc tồn đồng độ, tắc phúc hậu lộc trọng, đãn tính tình kiệm phác nhi cẩn thận, chủ phú. Như hóa quyền, hóa lộc, tắc phách lực cực đại, thiện sang nghiệp, chủ quý”

Nghĩa là: Nếu Sao Cự Môn được Lộc tồn đồng độ, thì phúc dày lộc trọng. Nhưng tính tình thì cần kiệm cẩn thận, chủ về giầu sang. Còn như Hóa Quyền, Hóa Lộc, thì tính quyết đoán rất lớn, dễ gây dựng thành cơ nghiệp.

Đặc biệt là cách Cự Môn Tý Ngọ rất cần Quyền, Lộc. Chẳng thế mà Ngọc Thiềm tiên sinh đã nói:

“Cự Môn Tý Ngọ nhị cung phùng, cục trung đắc ngộ dĩ vi vinh, tam hợp hóa cát khoa quyền lộc, quan cao cực phẩm y tử bào”.

Nghĩa là gặp Sao Cự môn ở hai cung Tý Ngọ, được cục này là vinh hiển. Nếu lại được Hóa Cát trong tam hợp hội về, thì có thể làm quan rất cao, mặc áo tía trong triều đình.

Cự Môn với Lục Cát (Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt)

Với lục cát tinh, đương nhiên là nhóm của những sao phò trợ rất đắc lực để hỗ trợ thành cách. Nhưng trong đó, Sao Cự môn đặc biệt thích hợp với Tả Hữu hơn. Sao Cự Môn được tả hữu hội hợp, dễ làm nên cơ nghiệp. Tả hữu trợ giúp cho Cự Môn đắc dụng nhất là khi phối hợp được với Lộc tồn, người tuổi Quý được cách này sẽ phần nhiều là quý hiển.

Còn đối với Khôi Việt, ngoài ý nghĩa của Quý Nhân ra, thì Khôi Việt không có sự phụ giúp nào đặc biệt cho Sao Cự Môn cả. Bởi lẽ, Cự Môn dù sao cũng có tính tài khí mạnh, mà Khôi Việt thì chủ quý nhiều hơn, nên tác dụng không rõ rệt lắm. Khôi Việt trợ giúp đắc lực nhất cho Sao Cự Môn khi Cự đóng ở cung Mão Dậu. Trong trường hợp này thì vì có Thiên Cơ đi cùng với Cự, nên rất thích hợp với Khôi Việt, chủ về Quý, dễ thành đạt trong quan trường.

Đối với Văn Xương, Văn Khúc, thì gần như là không hợp với Cự, bởi lẽ Cự vốn là hung tinh, chủ về thị phi, không hợp với văn tinh. Nếu lại gia thêm Hóa Kỵ nữa thì càng không hợp. Duy chỉ có một trường hợp Sao Cự Môn cư Thìn, nếu gặp Xương Khúc, Hóa Quyền hoặc Hóa Lộc thì lại là Kỳ cách! Phản hung vi cát.

Cách này vốn dĩ nếu xét theo cách bình thường thì không có gì tốt đẹp cả. Cổ nhân đã nói

“Thìn Tuất ứng hiềm hãm Cự Môn”

Hai cung Thìn Tuất ngại nhất là gặp Sao Cự Môn hãm! Tại vị trí này Cự Môn là đất hãm, đối cung là Thiên đồng cũng Hãm. Xét Tam phương hội hợp thì có 2 trường hợp : Cự môn cư Thìn thì sẽ có Thái Dương hãm hội chiếu. Cự Môn cư Tuất thì sẽ có Thái Dương miếu hội chiếu. Mấu chốt vấn đề chính ở chỗ này.

Khi Sao Cự Môn cư Tuất, Vương Đình Chi viết:

“Cự môn tại Tuất cung, Hóa quyền hoặc Hóa lộc giả, nãi kỳ cách, nhân vi Thái dương tại Ngọ cung, thị Nhật lệ trung thiên, hội chiếu Cự môn, tắc âm ám chi khí tiêu tẫn hĩ”.

Tức là, khi Sao Cự Môn đóng ở Tuất gặp Hóa Quyền, Hóa Lộc thì là Kỳ cách. Nguyên do Thái Dương đóng ở Ngọ, nhập miếu là “Nhật lệ trung thiên” sẽ làm tiêu tan cái ám khí của Cự.

Đối với Cự Môn tại Thìn cung, Vương viết:

“Tại Thìn cung, hữu nhất cá trọng yếu cách cục: cự môn dữ Văn xương đồng độ, Tân niên sinh nhân chủ phú quý vô luân. (phường bản chích ngôn cự môn tại thần tuất, “Tân sinh nhân mệnh ngộ phản vi kỳ” , thiểu liễu Văn xương đồng độ giá cá điều kiện) tại Tuất cung kiến cát Hóa diệc vi kỳ cách”.

Tại cung Thìn có một cách cục trọng yếu của Sao Cự Môn. Đó là Cự Môn Văn Xương đồng độ, người tuổi Tân chủ phú quý không kể hết (phường bản* chỉ nói Cự Môn tại Thìn Tuất “Người tuổi Tân mà mệnh gặp được thì lại lại là kỳ cách”, mà thiếu mất điều kiện Văn xương đồng độ). Tại cung Tuất mà gặp Hóa Cát cũng là kỳ cách.

* Sách ngày trước chia làm 2 loại, Kinh bản và Phường bản. Kinh bản là sách chính gốc, còn Phường bản là các sách bản sao của các địa phương khác nhau.

Như vậy, tổng kết lại sẽ có các trường hợp gọi là “kỳ cách” như sau :

SaoCự Môn cư Thìn, có Văn xương đồng độ, người tuổi Tân thì đắc cách

Sao Cự môn cư Tuất, có Quyền Lộc hội hợp, người tuổi Tân hợp cách.

Chú ý rằng, điều kiện để có được kỳ cách phải rất chặt chẽ, không được sơ hở. Ngoài những điều kiện kể trên, thì bản cung phải sáng sủa, tránh xa Tuần triệt, sát tinh, tam phương tứ chính cần phải có văn tinh, quý tinh trợ thủ thì mới thành cách xác đáng được.

Ngoài ra, như trên đã viết rõ, Sao Cự môn cũng rất cần Lộc tồn để hóa giải mà thành cách. Đẩu số toàn thư viết

“Phùng lộc tồn tắc giải kì ách”

Nghĩa là gặp Sao Lộc tồn thì có thể hóa giải tai ách cho Cự môn. Nhưng đặc biệt chú ý, trường hợp Cự môn cư Mão, người tuổi Giáp thì sẽ bị Kình Dương đồng cung, lại là hung cách.

Cự môn phối với Lục Sát (Không Kiếp Kình Đà Hỏa Linh)

Ngay từ đầu đã nói rằng Cự Môn là Hung tinh, chủ thị phi ám muội “minh tranh ám đấu”. Bởi vậy, khi phối với Hung Sát tinh thì đương nhiên là Khí Cách. Tức là sẽ bị phá cách nặng mà cổ nhân phê rằng “Hủ mộc nan điêu”. Như khúc gỗ đã mục nát, không thể đẽo gọt được thành cái gì cả. Kể cả khi Cự miếu vượng mà hội hung sát tinh thì cũng sẽ bị phá cách, không còn tốt đẹp nữa. Nhưng tùy theo mỗi nhóm Hung Sát tinh mà sẽ có nhưng tác dụng khác nhau đến Cự Môn. Ta hãy thử tìm xem xưa nay người ta luận như thế nào khi Sao Cự Môn gặp Hung Sát tinh.

Sao Cự Môn gặp Không Kiếp

Đối với Không Kiếp: Địa Không, Địa Kiếp là một cặp sao Sát tinh đáng ngại nhất của Tử vi. Thậm chí có người còn cho rằng “đóng đâu chết đó”. Vậy khi kết hợp với Cự Môn, thì đương nhiên sẽ làm tăng tính Hung của Cự Môn. Về cơ chế, thì lúc ấy cái “tính hung” của Cự Môn sẽ phối với “tính hung” của Không Kiếp mà tác họa. Tính Hung của Cự Môn là Thị Phi, Ám Muội.. mà tính Hung của Không Kiếp là “giáng thương nhân, hình pháp, thất tài, cô đơn chi họa”. Tức là giáng họa về thương tích, hình pháp, mất tiền, cô đơn. Cả hai “tính hung” này mà phối hợp với nhau thì khó lòng tránh được tại họa. Ít nhiều thì cũng phải gặp phiền toái.

Đẩu số toàn thư có viết : Thử tinh hóa ám bất nghi phùng, canh hội sát tinh dũ tứ hung, thần xỉ hữu thương kiêm tính mãnh, nhược nhiên nhập miếu khả hòa bình. Nghĩa là, Sao Cự môn hóa Ám tinh chẳng nên gặp làm gì. Nếu lại hội sát tinh thì càng hung, môi răng dễ bị thương tích lại thêm cái tính mạnh bạo, làm việc gì cũng “nóng giận mất khôn” mà để lại hậu quả. Nếu như Sao Cự Môn mà nhập miếu, thì may ra có thể được hòa bình

Như vậy, khi Sao Cự Môn gặp Không kiếp thì nên chú ý. Ngoài việc mang thương tích vào môi, răng, nhưng quan trọng hơn cả là cái tính Thị Phi Ám Muội của Cự bị kích động. Cho nên thường tai họa sinh ra do hành xử nóng giận, vội vã, không kiềm chế được bản thân mình

Sao Cự Môn ngộ Kình Đà

Đối với Kình Đà: Kình Đà là hai sát tinh cũng rất nặng nề của Tử vi. Tác dụng của nó tuy có khác nhau, nhưng cổ nhân nhóm với Hỏa Linh và quy nó về Tứ Hung. Đối với Cự Môn, thì tác dụng của Kình Đà có phần nặng nề hơn Không Kiếp. Trong cổ thư có viết về Sao Cự Môn khi gặp Kình Đà một câu

“Cự Môn Tứ sát – hãm nhi hung”

Tức là khi Sao Cự Môn gặp tứ sát thì không những bị vây hãm, mà còn Hung. Khi Sao Cự Môn gặp Dương Đà Hỏa Linh thì coi như bị phá cách nặng. Không những không thể phát huy được (hãm), mà còn đem tai họa đến (hung)

Trần Đoàn lão tổ có nhận xét rằng “Tham Hao đồng hành, nhân hảo đồ phối. Ngộ đế tọa tắc chế kì cường. Phùng lộc tồn tắc giải kì ách, trị dương đà nam đạo nữ xướng”.

Nghĩa là, Sao Cự Môn mà gặp Tham Hao đồng hành, thì như gặp người bạn tốt. Gặp Tử vi thì có thể chế được tính cường ngạnh. Gặp Lộc tồn có thể giải được ách. Gặp Dương Đà thì trai dễ trộm cắp, mà nữ dễ làm kỹ nữ.

(có nhiều thắc mắc trong câu này của Trần Đoàn lão tổ là Tại sao Cự Môn lại có thể gặp được Tham hoặc Tử vi. Về mặt an sao thì không thể, và cho rằng câu này là man ngôn. Nhưng về mặt phối hợp với nhau để luận đoán, thì trên lá số không hẳn chỉ có một sự phối hợp khi an sao, mà còn nhiều sự phối hợp khác nữa, vấn đề này cần suy ngẫm thêm)

(Gặp ở vận hạn chẳng hạn – Phú Hà)

“Cự Môn thủ mệnh kiến Dương Đà, nam nữ tà dâm”. Người Cự môn thủ mệnh, nếu trong tam phương tứ chính mà hội Kình Đà, thì thường mang lòng tà dâm.

Với Kình Dương, phê rằng “Cự Hỏa Kình dương, chung thân ải tử”. Tức là Cự Môn mà gặp Hỏa linh, Kình dương. Thì cuối đời cái chết không được bình thường (ải tử – là thắt cổ tự tử), nhưng dịch cho thoáng nghĩa thì nói như trên.

Với Đà la, Phú nói rằng “Đà la đồng cư Thân Mệnh hoặc Tật Ách cung, chủ bần khốn, thể nhược tàn tật, tổ nghiệp phiêu đãng, bôn ba lao lục”. Có nghĩa là khi Sao Cự Môn Đà la cùng đóng ở Thân, Mệnh hoặc Tật ách cung, thì chủ về nghèo khốn, thân thể yếu đuối, tàn tật, bỏ tổ nghiệp mà trôi nổi, bôn ba vất vả.

Ngoài ra, trongTử Vi Đẩu Số Toàn thư còn thêm một câu về hình tướng “Cự Môn, Đà La tất sinh dị chí”. Tức là Mệnh thân mà có Cự Môn, Đà La thì ắt là sẽ có nhưng nốt ruồi khác lạ (câu này bản phường chỉ nói rằng : Đà la tất sinh dị chí, mà không có Cự môn – cần chiêm nghiệm).

Sao Cự Môn ngộ Hỏa Linh

Đối với Hỏa Linh: Hỏa Linh là hai Hung tinh cùng hàng với Không Kiếp Kình Đà. Phối với Sao Cự Môn, thì cũng giống như những hung sát tinh trên, làm cho hung tính của Cự Môn tăng lên mà tác họa. Tính của Hỏa Linh đặc trưng là yểu chiết, cho nên trong Tử vi còn gọi là Đoản thọ sát tinh. Chính vì vậy, mà khi gặp Hung tinh Cự Môn thì trong các cách cục đều phảng phất ý nghĩa này.

Như câu “Cự Hỏa Kình dương chung thân ải tử”, hoặc “Cự môn Hỏa Linh phùng ác hạn, tử vu ngoại đạo” – Cự môn mà gặp Hỏa Linh, nếu vào hạn ác thì có thể chết ngoài đường.

Đối với cách này, thì rất cần phải có Lộc tồn để hóa giải (như trên đã dẫn), và khi nhập hạn thì rất cần Tử vi để áp chế thì có thể hóa giải được cái sự hung hiểm của trường hợp này. Ngọc Thiềm tiên sinh phê rằng “Cự môn Hỏa Linh, vô Lộc tồn Tử vi áp chế, quyết phối thiên lý, tao hung” – Nghĩa là, Cự-Hỏa-Linh mà không có Lộc-Tử hóa giải, áp chế thì phải quyết là sẽ lấy chồng lấy vợ rất xa (thiên lý), mà sẽ gặp hung họa. Nhưng như bài trước đã viện dẫn, khi Cự môn cư Mão, người tuổi Giáp sẽ gặp Kình dương đồng cung, sẽ là hung cách chứ không hy vọng hóa giải được.

Và cuối cùng, có lẽ cũng căn cứ theo tính chất của Hỏa-Linh, thì xưa còn nhận xét rằng Cự môn thủ mệnh, tam hợp sát thấu, tất tao hỏa ách – Cự môn nhập mệnh, nếu trong tam hợp có Hỏa Linh hội về, ắt sẽ gặp hỏa ách

(câu này vẫn còn đang trong vòng nghi ngờ và tranh cãi, cho rằng nó được suy diễn ra từ tính chất của Hỏa tinh. Bởi lẽ Cự Môn thuộc Thủy, gặp Hỏa không có lẽ nào lại kích động hỏa tính của Hỏa tinh được – cần chiêm nghiệm thêm)

Cự Môn Hóa Quyền

Cổ thư để lại khi viết về Cự Môn có viết “tại mệnh bàn chủ khẩu thiệt thị phi, minh tranh ám đấu. Nhược hóa quyền tinh, tắc vi nhân sư biểu, thanh danh viễn dương. Dữ thái dương hội chiếu, tắc quang minh lỗi lạc, năng phú năng quý” – nghĩa là : Cự môn tại mệnh, chủ về khẩu thiệt thị phi, minh tranh ám đấu. Nhưng nếu hóa Quyền tinh, thì ắt sẽ là kẻ mô phạm, danh tiếng bay xa. Cùng với Thái Dương hội chiếu thì quang minh lỗi lạc, lại vừa Phú vừa Quý”.

Cự môn Hóa thành Quyền tinh khi nào? Xem trong bảng tứ Hóa thì thấy :

Cự hóa Lộc ở tuổi Tân

Cự hóa Quyền ở tuổi Quý

Cự hóa Kỵ ở tuổi Đinh

Cự môn không hóa Khoa

Đây là Chính thể Hóa cách, đừng nhầm với việc phát biểu Cự Môn – Hóa Quyền. Tức là Cự môn gặp Hóa Quyền hay hội Hóa quyền. Như vậy, câu “nhược hóa quyền tinh, tắc vi nhân sư biểu, thanh danh viễn dương” – là nói đến ý rằng, với người tuổi Quý thì chính thể Cự môn sẽ hóa thành Hóa Quyền, là đắc cách. Còn với người tuổi Tân, vì cách an Tứ Hóa “Tân : Cự – Nhật – Văn Khúc – Văn Xương” – vậy, nếu mệnh người tuổi Tân mà đóng ở tại 4 cung Dần-Thân, Tỵ-Hợi thì đắc cách vì sẽ hội được Lộc-Quyền, cũng là một trường hợp xem xét.

Mà như ở phần trước đã nói : Cự Môn chủ về Thị Phi Khẩu Thiệt, tức cũng chủ về danh tiếng, nếu Cự Miếu Vượng là thành đắc dụng, lại hóa Quyền, thì danh tiếng bay xa. Nếu thêm Quế Hoa, Thiên Ất, đặc biệt là Kình dương nhập miếu hội chiếu thì ắt hẳn danh tiếng không phải là nhỏ, vì “kình dương nhập miếu – cái thế văn chương”. Vì thế Phú Trần đoàn mới luận “Cự Kình Hóa Lộc Tuất Thìn Cung – Tân Quý sinh nhân Phú Quý đồng – Đắc vận thanh danh lưu viễn xứ – Chỉ khủng tha hương lão bất hồi” – Cự Kình Hóa Lộc ở tại Tuất-Thìn 2 cung, nếu người tuổi Tân, tuổi Quý thì được phú quý, nếu đắc vận gặp thời thì tiếng tăm lừng lẫy xứ người, nhưng chỉ sợ rằng sẽ rơi vào cảnh tha hương đến già chẳng về được.

Cự Môn Hóa Lộc

Cự Môn Hóa Kỵ

Hạn hành Cự Kỵ hung thần.

Phải phòng những chốn giang tân mới lành.

Thông thường mọi người hay hiểu theo ý thứ nhất. Giang Tân nghĩa là bờ sông. Ám chỉ hay bị tai nạn sông nước.

Ngoài ra còn có ý thứ 2. Vì tượng Cự Môn Hóa kỵ là Ngọc có vết, cho nên đối với nữ nhân mà hạn đến Cự Kỵ thì dễ bị thất tiết.

Cự Môn có tượng là cái cửa, là cái mồm, nhưng xét về nữ giới, nó còn là bộ phận đặc trưng. Cho nên là khi mà gặp những cách xâm phạm đến Sao Cự Môn thì dễ bị xâm hại đến danh tiết.

Sao chủ mệnh Cự Môn

Sao Cự Môn ở Cung Phu Thê

Cự môn là sao chủ về điều tiếng thị phi, tranh giành cãi vã nên khi nó đóng vào Cung Phu Thê thì đương số nên lấy vợ muộn để hạn chế những điều này. Chi tiết bạn có thể tham khảo tại bài viết Cự Môn ở Cung Phu Thê

Cự Môn Hóa Kỵ Cung Phu Thê

Thiên Đồng Cự Môn hãm địa Cung Phu Thê

Sao Cự Môn ở Cung Phúc Đức

Cự Môn thủ Cung Phúc Đức thì dù miếu vượng, đương số cũng ít khi cảm thấy tinh thần được thoải mái. Chi tiết hơn mời bạn tham khảo bài viết Sao Cự Môn ở Cung Phúc Đức

Cự Môn Hóa Kỵ Cung Phúc Đức

Cung Quan Lộc có Sao Cự Môn

Khi Cung Quan Lộc có Sao Cự Môn, đương số thích hợp với việc sử dụng các kỹ năng chuyên môn để kiếm tiền, đồng thời cũng chủ đương số là người trắng tay dựng nghiệp. Chi tiết hơn mời bạn tham khảo bài viết Cự Môn Cung Quan Lộc 

Cung Tài Bạch có Sao Cự Môn

Sao Cự Môn đóng Cung Tài Bạch chủ về đương số phải lao tâm khổ tứ để kiếm tiền. Chi tiết hơn mời bạn tham khảo trong bài viết Cự Môn Cung Tài Bạch

Sao Cự Môn Cung Thiên Di

Khi Sao Cự Môn thủ Cung Thiên Di, nếu miếu vượng thì chủ về tài hùng biện nổi tiếng gần xa, tuy nhiên nếu gia thêm Hóa Kỵ thì chắc chắn không tránh khỏi việc thị phi va chạm..Chi tiết hơn mời bạn tham khảo bài viết Sao Cự Môn Cung Thiên Di

Thái Dương Cự Môn Cung Thiên Di

Sao Cự Môn ở Điền Trạch

Cự Môn định chủ thị phi nên khi cư vào Cung Điền Trạch thì rất dễ xảy ra tranh chấp tài sản ông cha để lại, thậm chí có thể dẫn đến kiện cáo lẫn nhau. Chi tiết hơn mời bạn tham khảo bài viết Cự Môn ở Cung Điền Trạch

Sao Cự Môn Cung Huynh Đệ

Khi Sao Cự Môn thủ nhập Cung Huynh Đệ, chủ về có từ 2 anh em trở lên & tùy vào sự phối hợp của các bộ sao khác nhau mà có thể dẫn tới những kết quả khác nhau. Nếu cần chi tiết hơn, mời bạn tham khảo bài viết Cự Môn Cung Huynh Đệ

Sao Cự Môn Cung Tử Tức

Khi Sao Cự Môn nhập vào Cung Tử Tức, chủ về sự hiếm muộn con cái hoặc con cái sẽ khó nuôi. Chi tiết hơn, hãy tham khảo bài viết Cự Môn Cung Tử Tức

Sao Thiên Đồng Cự Môn

Cự Môn Đà La

Cự Môn Thiên Hình

Cự Môn Hóa Kỵ gặp Tuần

Cự Môn Hóa Kỵ gặp Triệt

Thay lời kết

Đây thực sự là bài viết rất công phu về Sao Cự Môn của Thầy Nguyễn Trọng Tuệ (Tuệ Tvnb). Thông qua bài viết này, chắc chắn mọi người sẽ thấy rõ nhất 2 đặc tính của Sao Cự Môn là:

Minh Tranh Ám Đấu

Khẩu Thiệt Thị Phi

Tuy cổ nhân phê Sao Cự Môn ở vào 12 cung đều xấu. Nhưng chúng ta cần phân biệt rõ tính chất của Sao Cự Môn là miếu vượng hay hãm địa để định rõ cát hung của Cự Môn.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Ý Nghĩa Sao Cự Môn Trong Tử Vi trên website Duanseadragon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!