Đề Xuất 3/2023 # Tử Vi Là Gì? Nguồn Gốc Của Tử Vi Được Xuất Phát Từ Đâu? # Top 8 Like | Duanseadragon.com

Đề Xuất 3/2023 # Tử Vi Là Gì? Nguồn Gốc Của Tử Vi Được Xuất Phát Từ Đâu? # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tử Vi Là Gì? Nguồn Gốc Của Tử Vi Được Xuất Phát Từ Đâu? mới nhất trên website Duanseadragon.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tử vi là gì?

Tử vi hay còn được gọi là tử vi đẩu số đây là một hình thức dựa trên cơ sở bói toán vận mệnh con người trên cơ sở triết lý của Kinh Dịch với các ngũ hành, can chi, âm dương, bát quái…Trên phương pháp lấy lá số tử vi với thiên bàn, các cung sao, địa bàn và theo âm lịch ngày, tháng, năm giới tính của con người để đoán diễn biến vạn vật của con người.

Bài viết hay :

Tử là tím còn vi là huyền diệu đây là tên của hoa màu tím bởi lễ từ xa xưa Khoa Chiêm Tinh Tướng mệnh Đông dùng loài hoa tím để chiêm bốc.Hiện nay tử vi cũng có thể nói là môn khoa học

Nguồn gốc khoa Tử Vi

Khoa tử vi bắt nguồn từ thời nào luôn là một cách mà mọi người điều bí ẩn cho tới hiện nay, người sáng lập là ai vẫn là một câu hỏi không có hồi đáp. Những từ thời nhà Gia Tĩnh thuộc Minh Triều của tiến sĩ La Hồng Tiên ban soạn mang tên là Tử Vi Đấu số Toàn thư của tác giả Hi Di Trần Đoàn. Các sách tử vi sau này cũng được thống nhất với tổng hợp thành môn bói này là Trần Đoàn Hi Di Lão Tổ ông sinh sống vào thời Bắc Tống, Trung Hoa. Trần Đoàn là một nhà thiên văn đa tài thời đường thời, người đất Hoa Sơn thuộc tỉnh Thiểm Tây huyện Hoa Âm ngày nay.Ông là người học văn không thông và học võ không đủ sức những cơ duyên ông lại viết nên cuốn Tử Vi số Toàn Thư này.

Bạn có thể xem video tử vi là gì :

Du nhập về Việt Nam

Tử Vi có nguồn gốc từ Trung Quốc những không lâu sau đó là cũng về Việt Nam là môn học nổi bật được rất nhiều những học giả người Việt ưa chuộng. Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn là một trong những học giả đã cống hiến rất nhiều trong môn học bói toán này. Cách tính an mệnh của tử vi Việt Nam bắt đầu từ cung Dần còn Trung Hoa bắt đầu từ cung Sửu.

Lá số tử vi là gì?

Lá số tử vi là một hệ thống cung với những sao và cung hiển thị các thông tin và mặt thành công hay thất bại, may mắn, rủi ro, hạnh phúc, bệnh tật…và những mối quan hệ xung quanh mỗi con người. Căn cứ vào lá số tử vi để suy đoán về tương lai vận mệnh của con người.

Trong lá số tử vi người ta phân chia ra làm 12 cung như sau:

Cung Thiên Di

Cung Tật Ách

Cung Tài Bạch

Cung Tử Tức

Cung Phu Thê

Cung Huynh Đệ (hay cung Bào)

Cung Mệnh và Thân

Cung Phụ Mẫu

Cung Phúc Đức

Cung Điền Trạch

Cung Quan Lộc

Cung Nô Bộc

Nhìn theo quy luật và các cung kết hợp để giải mã tử vi của mỗi con người có thể dự đoán đến mức chính xác.

Ứng dụng của tử vi trong cuộc sống?

    Chọn ngày tốt

Trong việc chọn ngày tốt tử vi giúp con người chọn ngày lành tháng tốt để xây nhà, gả con, lấy vợ…để mang lại nhiều may mắn thuận lợi trong công việc.

        Chọn nghề nghiệp

    Tử vi giúp con người có số lá biểu thị nghề nghiệp qua các cung mệnh, thân, quan và taig để giúp tìm ra ưu thế trong công việc tốt nhất đối với lá số của con người

          Bảo vệ sức khỏe

      Khi xem bói tử vi bạn có thể dự đoán cho bạn biết rõ về sức khỏe dựa vào cung mệnh, thân, tật ách và cung hạn. Rất nhiều người đã suy đoán được luận đoán chính xác về mức độ mắc phải là kết hợp nặng nhẹ và thời gian phát bệnh của mỗi người trên các lá số. Cũng có nhiều người tìm ra được những phương pháp giúp cải thiện và phòng bệnh hỗ trợ điều trị thông qua dinh dưỡng và điều trị.

            Hạn xảy ra trong đời

        Tử vi được ứng dụng nhiều trong đời sống bởi lẽ tử vi có thể giúp con người đoán biết được vận mệnh tương lai để biết cách phòng tránh và hạn chế những nguy hiểm rủi ro trong cuộc sống. Từ đó con người có thể đối diện với vận hạn và chủ động để vượt qua đề phòng dễ dàng hơn.

        Nguồn Gốc Của Thuật Xem Tướng Tay

        Ngoài ra, tại đảo Tasmania và vùng phía bắc Tây Ban Nha có một lượng lớn các hình vẽ bàn tay được khắc trên tường các hang động ở đây, cũng có rất nhiều đồ vật hình bàn tay được tìm thấy tại các địa điểm khai quật ở khớp nơi trên thế giới.

        Thuật xem tướng tay của Trung Quốc cũng có lịch sử khá lâu đời. Vào thời Chu (cách đây khoảng 3000 năm), các quốc gia Trung Nguyên đã sớm thịnh hành thuật xem tướng. Theo lịch sử ghi chép, từ trước công nguyên, tại Trung Quốc và khu vự Địa Trung Hải đã rất thịnh hành nghiên cứu thuật xem tướng tay. phong thủy cá nhân

        Thuật xem tướng tay của người Trung Quốc cổ đại đã hình thành một hệ thống, mới đầu chỉ là xem tướng tay (chân), rồi tới xem tướng lòng bạn tay (chân), tướng ngón tay (chân) và tiếp đến là tướng vân tay (chân), hình thành nên phương pháp xem tướng có hệ thống phân hoại hoàn chỉnh.

        Các trước tác về xem tướng của người Trung Quốc cổ đại chứa đựng một nội dung vô cùng phong phú về tướng tay. Như thời Hán có tác phẩm “Cốt cách thiên” của Vương Sung, tiếp đến là “Liệt tướng thiên” của Vương Phù, hai tác phẩm này đều nghiên cứu khá chi tiết về tướng tay.

        Thời Bắc Tống có tác phẩm “Ma Y thần tướng” của đạo sỹ Ma Y, thời Minh có “Liễu Trang thần tướng” của Viên Củng, thời Thanh có “Tướng lý hoành chân” của Trần Chiêu, tất cả những tác phẩm này đều nghiên cứu tướng tay một cách toàn diện và hệ thống.

        Điều dễ nhận thấy nhất là hầu như trong mọi tác phẩm tướng thuật của người cổ đại Trung Quốc đều chú tâm tới việc nghiên cứu tướng tay, thậm chí có thời kỳ, xem tướng tay còn được coi là pháp thuật nhập môn cho những người muốn bước vào “vương quốc tướng học”. Từ xưa tới nay, trong kho tàng tướng học Trung Quốc có rất nhiều bộ sách quan trọng, trong đó đặc biệt kể đến 4 tác phẩm tướng thuật nổi tiếng được mệnh danh là “Trung Quốc tứ đại tướng thư” đó là “Ngọc quản chiếu thần cục”, “Nguyệt Ba động trung ký”, “Thái thanh thần giám” và “Nhân luân đại thống phú”. Trong đó, có rất nhiều chương trình bày, phân tích các cách xem tướng tay, chẳng hạn như “Thủ văn hình mô”, “71 chưởng pháp”.phong thủy cá nhân

        Sau khi tiến hành điều tra thực tế, một người Anh tên là Noel Jackin đã tiến hành giải thích khá cụ thể về tướng tay. Một người Anh khác có tên Frank Katins đã biên soạn một tác phẩm về tướng tay của người phương Tây, phân chia thành 4 loại chính. Cách phân loại tướng tay của ông gần đây đã được đông đảo chuyên gia về tướng tay ứng dụng.

        Biên soạn: Miu Decor

        Kinh Dịch Là Gì? Nguồn Gốc, Lịch Sử Hình Thành Đến Bói Mệnh, Phong Thủy

        Kinh Dịch là bộ sách kinh điển của Trung Hoa. Nó là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại. Tư tưởng triết học cơ bản dựa trên cơ sở của sự cân bằng thông qua đối kháng và thay đổi (chuyển dịch). Ban đầu, Kinh Dịch được coi là một hệ thống để bói toán, nhưng sau đó được phát triển dần lên bởi các nhà triết học Trung Hoa. Cho tới nay, Kinh Dịch đã được bổ sung các nội dung nhằm diễn giải ý nghĩa cũng như truyền đạt các tư tưởng triết học cổ Á Đông và được coi là một tinh hoa của cổ học Trung Hoa. Nó được vận dụng vào rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống như thiên văn, địa lý, quân sự, nhân mệnh…

        Kinh (經 jīng) có nghĩa là một tác phẩm kinh điển, trong tiếng Hoa có gốc gác từ “quy tắc” hay “bền vững”, hàm ý rằng tác phẩm này miêu tả những quy luật tạo hóa không thay đổi theo thời gian.

        Dịch (易 yì) có nghĩa là “thay đổi” của những thành phần bên trong một vật thể nào đó mà trở nên khác đi.

        Khái niệm ẩn chứa sau tiêu đề này là rất sâu sắc. Nó có ba ý nghĩa cơ bản có quan hệ tương hỗ như sau:

        Bất dịch – bản chất của thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là luôn thay đổi, tuy nhiên trong những thay đổi đó luôn luôn tồn tại nguyên lý bền vững – quy luật trung tâm – là không đổi theo không gian và thời gian.

        Biến dịch – hành vi của mọi thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là liên tục thay đổi. Nhận thức được điều này con người có thể hiểu được tầm quan trọng của sự mềm dẻo trong cuộc sống và có thể trau dồi những giá trị đích thực để có thể xử sự trong những tình huống khác nhau.

        Giản dịch – thực chất của mọi thực thể. Quy luật nền tảng của mọi thực thể trong vũ trụ là hoàn toàn rõ ràng và đơn giản, không cần biết là biểu hiện của nó là khó hiểu hay phức tạp.

        Vì biến dịch, cho nên có sự sống. Vì bất dịch, cho nên có trật tự của sự sống. Vì giản dịch, nên con người có thể qui tụ mọi biến động sai biệt thành những quy luật để tổ chức đời sống xã hội.

        Truyền thuyết nói rằng Kinh Dịch bắt đầu ra đời từ vua Phục Hy, lúc ấy Hoàng Hà có con long mã hiện hình lưng nó có khoáy thành đám, từ một đến chín, vua Phục Hy coi những khoáy đó, mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch ra thành nét.

        Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương, và một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là hai Nghi. Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra bốn cái hai vạch, gọi là bốn Tượng. Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra tám cái ba vạch, gọi là tám Quẻ (tức là quẻ đơn). Sau cùng Phục Hy lại đem quẻ nọ chồng lên quẻ kia, thành ra sáu mươi tư cái sáu vạch, gọi là sáu mươi tư Quẻ (tức là quẻ kép). Từ thời Phục Hy đến cuối nhà Thương Kinh Dịch vẫn chỉ là những vạch liền, vạch đứt, chưa có tên hiệu chữ nghĩa gì cả.

        Sang tới đầu nhà Chu, Chu Văn Vương mới đem những Quẻ của Phục Hy mà đặt từng tên và diễn thêm lời ở dưới mỗi quẻ để nói về sự lành dữ của cả quẻ, như chữ nguyên hanh lợi tẫn mã chi trinh ở quẻ Khôn v.v… Lời đó gọi là Lời Quẻ (quái từ), hay lời thoán (thoán từ).

        Rồi sau đó Chu Công tức Cơ Đán (con trai thứ Văn Vương), lại theo số vạch của các quẻ mà chia mỗi quẻ ra làm sáu phần, mỗi phần gọi là một Hào, và dưới mỗi hào đều có thêm một hoặc vài câu, để nói về sự lành dữ của từng hào, như câu Sơ Cửu: tiềm long vật dụng hay câu Cửu Nhị: hiện long tại điền trong quẻ Kiền và câu Sơ Lục lý sương kiên băng chí hay câu Lục Tam: Hàm chương khả trinh trong quẻ Khôn…

        Lời đó gọi là lời hào (Hào từ) vì phần nhiều nó căn cứ vào hình tượng của các hào, cho nên nó còn gọi là (Lời tượng).

        Tiếp đến Khổng Tử lại soạn ra sáu thứ nữa, là Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái. Thoán truyện có hai thiên: Thượng Thoán và Hạ Thoán; Tượng truyện có hai thiên: Thượng và Hạ Tượng; Hệ từ cũng có hai thiên: Thượng Hệ và Hạ Hệ; tất cả mười thiên, thường gọi là Thập dực (mười cánh). Sáu thứ đó tuy đều tán cho ý nghĩa Kinh Dịch rộng thêm, nhưng mỗi thứ có một tính cách.

        Trình Di nói: Rất huyền vi là Lý, rất tỏ rõ là Tượng, thể chất và công dụng vẫn là một nguồn, huyền vi và tỏ rõ không hề cách nhau, xem sự hội thông, để thi hành điển lễ của nó, thì Lời không có cái gì không đủ. Cho nên kẻ khéo học dịch, tìm kiếm về Lời, phải tự chỗ gần trước đã. Nếu mà khinh rẻ chỗ gần thì không phải là kẻ biết nói Kinh Dịch. Còn sự do Lời mà biết được Ý thì cốt ở người.

        Lưỡng Nghi là khởi nguồn của Kinh Dịch, đó là Âm và Dương, Dương được ghi lại bằng vạch liền (-) còn Âm vạch cách đoạn (-)

        Tứ Tượng

        Tượng là dùng hai Nghi chồng lên nhau và đảo chỗ, vì thế được Tứ Tượng. Tứ tượng là 4 tượng, bao gồm: thái dương, thiếu dương, thái âm và thiếu âm.

        Quẻ đơn

        Quẻ kép

        Nếu có thể người ta chồng hai quẻ kép lên nhau sẽ được 64 x 64 quẻ nữa. Nhưng có lẽ trí tuệ của con người chưa thể hiểu được những Quẻ đó, vì vậy tạm dừng lại ở 64 quẻ kép. Tiêu Diên Thọ có sáng kiến chồng 64 thẻ lên nhau tạo thành 64×64=4096 quẻ (mỗi quẻ mới gồm 12 hào), như thế quá nhiều nên ít ai theo.

        Các biểu tượng của Kinh Dịch là nằm trong tập hợp của 64 tổ hợp của các đường trừu tượng gọi là quẻ (卦 guà). Mỗi quẻ bao gồm 6 hào (爻 yáo) được biểu diễn dưới dạng các đoạn thẳng nằm ngang; mỗi hào này có thể là Dương (đường liền nét) hay Âm (đường đứt nét bao gồm hai đoạn thẳng cách nhau một khe nhỏ). Với sáu đoạn thẳng này được đặt lên nhau từ dưới lên trên trong mỗi quẻ suy ra có 2 6 hay 64 tổ hợp của hào và như vậy có 64 quẻ.

        Mỗi quẻ được cho là tổ hợp của hai tập hợp con, mỗi tập con gồm ba đường gọi là quái (卦 guà). Như vậy có 2 3 hay 8 quái khác nhau.

        Mỗi quẻ đại diện cho một trạng thái, tiến trình hay sự thay đổi có thể xảy ra. Khi quẻ được gieo bằng một trong những phương thức của bói toán bằng Kinh Dịch thì mỗi một đường (hào) có thể là tĩnh hoặc động. Hào động có thể có sự thay đổi từ Âm sang Dương hay ngược lại để tạo thành một quẻ khác, việc giải nghĩa của quẻ được gieo ban đầu dựa trên sự cân nhắc và xem xét các thay đổi đó.

        Các phương pháp truyền thống để gieo quẻ sử dụng số ngẫu nhiên để sinh ra quẻ, vì thế 64 quẻ này là không đồng nhất xét về xác suất.

        Có một số hình thức khác nhau sắp xếp quái và quẻ. Bát quái (八卦 bā gùa) là sự sắp xếp của các quái, thông thường là trên gương hoặc đĩa. Truyền thuyết cho rằng Phục Hi đã tìm thấy bát quái được viết trên mai rùa (Xem Hà Đồ). Kiểu sắp xếp tám quái dựa trên suy diễn này gọi là Tiên thiên bát quái.

        Vạch liền là Dương, tượng của mặt trời. Vạch đứt là Âm, tượng của mặt trăng. Mỗi một vạch (liền hoặc đứt) là một hào. Các thành phần này được biểu diễn trong một biểu tượng hình tròn chung (☯), được biết đến như Thái Cực đồ (☯) (太極圖 taijitu), nhưng nói chung người ta gọi tắt là đồ Âm-Dương (陰陽 yin-yang), miêu tả quan hệ giữa hai trạng thái của mọi thay đổi, chuyển dịch: khi Dương đạt tới cực đỉnh thì Âm bắt đầu phát sinh và ngược lại. Thái Cực đồ cũng là nguyên lý phát sinh Âm-Dương.

        Trong đó:

        Vô Cực tương đương trong Lão giáo là Vô Vi – có thể coi là hư vô.

        Thái Cực có thể tạm coi như trạng thái cân bằng khi vũ trụ hình thành.

        Lưỡng Nghi là hai thành phần Âm và Dương.

        Tứ Tượng là Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm.

        Có tám quái hay bát quái (八卦 bāguà) tạo thành do tổ hợp chập ba của Âm và/hoặc Dương:

        Bát quái nạp vào Hà Đồ và 8 đường kinh nạp vào Hà Đồ theo tính chất ngũ hành tương ứng được minh họa như sau:

        Biểu đồ các quái

        64 quẻ

        Các quẻ từ số 01 đến số 30 được gọi là Thượng Kinh, bắt đầu với hai quẻ Càn (trời), Khôn (đất) nên phần này đôi khi gọi là “đạo của Trời Đất”.

        Các quẻ từ số 31 đến số 64 được gọi là Hạ Kinh, bắt đầu với hai quẻ Hàm (tình yêu), Hằng (vợ chồng) nên phần này đôi khi gọi là “đạo của vợ chồng”.

        Tên gọi các quẻ: tên gọi của mỗi quẻ gồm 3 phần, bắt đầu với tên của các quẻ đơn tạo nên nó, đầu tiên là ngoại quái rồi đến nội quái, phần cuối của tên chỉ ý nghĩa của quẻ. Ví dụ quẻ Thủy Hỏa Ký Tế:

        thủy chỉ ngoại quái: Khảm (nước);

        hỏa chỉ nội quái: Li (lửa);

        ký tế chỉ ý nghĩa của quẻ: đã xong, đã hoàn thành, đã qua sông;

        ví dụ khác là quẻ Địa Sơn Khiêm:

        Cốt lõi của Kinh Dịch là gì?

        Cốt lõi của Kinh Dịch là thuyết “Tam dịch” nổi tiếng, tức là: Giản dịch, biến dịch và bất dịch.

        Giản dịch: là chỉ rằng, sự vật trên thế giới có phức tạp, huyền bí thế nào đi nữa, một khi trí tuệ nhân loại đạt đến được, thì có thể chuyển đổi chúng thành vấn đề mà mọi người dễ lý giải và có khả năng xử lý được.

        Biến dịch: là chỉ rằng, vạn sự vạn vật trên thế giới mỗi giờ mỗi khắc đều đang biến hóa, phát triển, không có vật gì là bất biến. Nếu rời xa sự biến hóa này, vũ trụ vạn vật khó mà hình thành được.

        Bất dịch: là chỉ rằng, dưới tiền đề vạn vật trong vũ trụ đều biến đổi, vẫn còn có thứ duy nhất bất biến tồn tại, chính là cái có thể biến ra vạn vật là bất biến. Tức là nói quy luật vạn vật đều biến đổi là vĩnh viễn bất biến.

        Cái gọi là Bất dịch, chính là cân bằng cơ bản. Biến dịch tức là phát triển biến hóa, tức là không cân bằng. Giản dịch tức là tất cả các sự vật phức tạp trên thế giới có thể dùng những phù hiệu đơn giản để khái quát. Phát triển biến hóa, không cân bằng là tuyệt đối, là vĩnh hằng. Cân bằng là tương đối, là tạm thời.

        Kinh Dịch có tác dụng gì?

        Kinh Dịch là bảo điển giải khai mật mã vũ trụ, hạnh phúc nhân sinh.

        Chìa khóa vàng thứ 1 là “âm dương”, bất kỳ sự việc nào trên thế giới, cân bằng âm dương đạt được hài hòa, hài hòa thì có thể phát triển, tiến bộ.

        Chìa khóa vàng thứ 2 là “ngũ hành”, vạn sự vạn vật đều không rời xa cái bóng của ngũ hành, mệnh lý học và vị lý học của phong thủy đều từ nó mà sinh ra.

        Chìa khóa vàng thứ 3 là “bát quái”, bát quái phát triển thành “Văn Vương 64 quẻ”. Nó cho chúng ta biết 64 mật mã của vũ trụ, đại thiên thế giới cũng không ngoài mật mã này.

        Nguồn gốc Kinh dịch đến từ đâu?

        Đây là câu hỏi mà rất nhiều học giả đã đưa ra khi nghiên cứu Kinh Dịch, rất nhiều công trình nghiên cứu đã viết về vấn đề này. Mỗi công trình đều cố đưa ra những luận cứ, diễn giải thuyết phục để chứng minh rằng Kinh Dịch là thuộc về quốc gia nào?

        Nhưng sự thật không đơn giản như vậy. Theo sự hiểu biết của người viết, Kinh Dịch bắt đầu xuất hiện trước tất cả các nền văn minh trên Trái Đất này.

        Nó là một di sản vỡ vụn của một nền văn minh cao cấp cổ xưa, và rải rác khắp nơi trên thế giới còn sót lại sau một thảm họa hủy diệt. Người Maya, người Ai Cập cổ đại, người Khmer, Ấn Độ cổ cũng đều có những phần tri thức tương tự như Kinh Dịch.

        Người Trung Hoa và Việt Nam may mắn có được nhiều mảnh vụn hơn và may mắn nhất là Trung Hoa đã sinh ra một Khổng Tử và Chu Công để san định và chú giải Kinh Dịch có hệ thống, nên người ta mới luôn nghĩ rằng Trung Hoa là cái nôi của Kinh Dịch.

        Tư liệu lịch sử

        Từ hai nghìn năm trước khi chúng ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ, tổ tiên chúng ta ở thời đại Hùng Vương đã sáng tạo Kinh Dịch và dùng học thuyết này xây dựng nền tảng cơ bản cho văn hoá Việt Nam, nhờ thế trong suốt một nghìn năm lệ thuộc Trung Hoa, chúng ta vẫn đứng vững không bị đồng hoá như các dân tộc ở Hoa Nam.

        Người Trung Hoa không biết từ thời điểm nào đã tiếp thu được Kinh Dịch của Việt Nam và họ cũng đã dùng Kinh Dịch để góp phần xây dựng nền tảng văn hoá của họ. Cho nên trong sinh hoạt, chúng ta có nhiều điểm giống họ, sau một nghìn năm mất chủ quyền, ta mất luôn tác quyền Kinh Dịch và những gì ta nghĩ, ta làm thấy giống Trung Hoa ta đều tự nhận mình học của Trung Hoa. Kỳ thật không phải như vậy.

        Người Trung Hoa rất trọng hướng Đông, khi họ tiếp khách, chủ nhà ngồi quay mặt về hướng Đông để tỏ chủ quyền. Trong thời lập quốc họ luôn luôn hướng về biển Đông, không kể Nam Kinh những Kinh đô danh tiếng của Trung Quốc đều lần lượt nối nhau tiến dần từ Tây Bắc sang Đông. Ngày nay những thành phố lớn của họ cũng đều tập trung ở bờ Đông. Thế mà trong Kinh Dịch họ phải công nhận hướng Nam là hướng văn minh, mặc dầu trong sử sách họ vẫn cho Hoa Nam là xứ man di.

        Mỗi khi cần bói Dịch họ đặt Kinh Dịch trên bàn thờ cho quay mặt về hướng Nam như hướng ngồi của Hoàng đế, rồi lạy bái cầu xin. Cử chỉ này cho thấy trong tiềm thức họ không quên nguồn gốc Kinh Dịch đến từ phương Nam, từ đất nước của các vua Hùng.

        Đánh giá từ các nhà nghiên cứu

        Trong vòng 60 năm trở lại đây một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã trực giác thấy rằng Kinh Dịch là tài sản của Việt Nam nhưng khi nói như thế họ vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của truyền thuyết nên vẫn thừa nhận Phục Hy là nhân vật sáng tạo Kinh Dịch. Cho nên không tránh được mâu thuẫn.

        Tuy nhiên, theo Wikipedia có viết tổ của đại tộc Bách Việt chính là Phục Hy. Vậy nên sự tồn tại và xuất hiện ở Việt Nam là điều dễ hiểu.

        Ngày nay chúng ta có đầy đủ chứng lý để nói ngay rằng Kinh Dịch là sản phẩm của Việt Nam, do chính tổ tiên người Việt sáng tạo, trên chính quê hương Việt Nam với nhiều bằng chứng vật thể còn lưu dấu trên đồ gốm Phùng Nguyên, đồ đồng Đông Sơn. Phục Hy, Văn Vương chưa từng làm ra Dịch.

        Kinh Dịch có phải dùng để bói mệnh, xem phong thủy?

        Kinh Dịch thật sự chính là một cỗ máy khổng lồ mô phỏng lại tất cả các dạng thức hoạt động và sự sống của vũ trụ, thời gian và không gian. Ví dụ gần nhất chính là các siêu máy tính lượng tử chuyên dùng để nghiên cứu và tính toán sự giãn nở của hệ ngân hà chúng ta.

        Để có thể mô phỏng thì nó phải có cơ chế tính toán, vì thế trong Kinh Dịch có một phần có thể coi là “toán học”, hay chính xác hơn là “toán học vũ trụ” – một cơ chế tính toán hoàn hảo có thể tính hết mọi thứ từ quá khứ đến tương lai. Nhỏ thì có thể tính được số mệnh một người, lớn thì có thể thấy được vận mệnh của một quốc gia từ vài chục cho đến hàng ngàn năm sau. Biểu hiện đơn giản nhất của nó chỉ có 64 quẻ, nhưng lại bao hàm từ sinh mệnh của con người, vạn vật cho đến cả thiên thể vũ trụ.

        Các sách kinh dịch nổi bật:

        Kinh dịch trọn bộ – Ngô Tất Tố

        Chu Dịch Vạn Xuân – Người Mới Và Kỷ Nguyên Mới

        Ứng Dụng 64 Quẻ Kinh Dịch Trong Dự Báo, Dự Đoán

        Sổ Tay Kinh Dịch

        Dịch Kinh Tường Giải (Di Cảo): Quyển Thượng

        Kinh Dịch Diễn Giải Và Diễn Ca

        Nhân Mệnh Trong Kinh Dịch

        Bí Ẩn Trên Bàn Tay

        Dịch Lý Và Con Người

        Thuật Số Chu Dịch

        Kinh Dịch Là Gì? Học Kinh Dịch Như Thế Nào? Bắt Đầu Từ Đâu?

        Kinh dịch là một bộ môn khoa học cổ phương đông. Kinh dịch được dùng để bói toán thông qua việc tính toán xu hướng vận động của vạn vật qua không gian và thời gian…

        Kinh Dịch là bộ môn khoa học cổ biểu thị sự vận động của thế giới tự nhiên thông qua 2 khí Âm Dương. Thực tế thì quẻ dịch cũng chỉ bao gồm 2 vạch Âm Dương để biểu thị vận động của 2 khí thông qua hệ thống 64 quẻ dịch.

        Học kinh dịch nói thật là để bói, sinh ra kinh dịch là để bói, để dự đoán sự vận hành của vạn vật… Khác với tư duy của các nhà nho áp Kinh Dịch vào đạo xử thế trong xã hội. Mọi người nên chú ý điều này để nghiên cứu được đúng đường đúng lối.

        Tại sao lại như vậy, chúng ta bây giờ là con người hiện đại, mỗi người đều có rất nhiều việc phải làm, phải suy nghĩ. Điều này dẫn đến thời gian dành cho việc học kinh dịch của chúng ta thực sự là rất ít.

        Chính vì lý do eo hẹp về thời gian, chúng ta phải học phần dụng trước, nắm trước dụng pháp để vận dụng nhuần nhuyễn vào thực tế, từ đấy giúp chúng ta vững tin Kinh Dịch là chuẩn mực, càng kích thích lòng ham học trong mỗi chúng ta. Từ đó chúng ta mới có đủ tâm trí để đi vào tìm hiểu bản thể của Kinh Dịch.

        Các bạn hãy nhớ rằng, mấu chốt nhất của Kinh Dịch chính là hệ thống 64 quẻ dịch, thông qua 2 khí âm dương hiển hóa qua 2 vạch liền vạch đứt mà diễn hóa sự phát triển của vạn vật muôn loài…

        Để có thể tự học Kinh Dịch Dự Đoán Lục Hào, các bạn cần tuần tự tham khảo các bộ sách sau:

        – Một tác phẩm đúc kết tinh huyết cả một đời của Dã Hạc Lão Tiên Sinh. Đọc quyển này các bạn sẽ tiếp thu được những kiến thức cơ bản, chuẩn chỉ nhất của môn Dự Đoán Lục Hào

        Lục Hào Cổ Bốc Tổng Luận Thiên – Một bộ sách phân tích toàn bộ các yếu quyết cực kỳ quan trọng khi luận quẻ như Ảnh hưởng của tổ hợp Nhật Nguyệt đến Hào Quẻ, Tổ hợp biến hóa giữa Hào Dụng Thần (Việc cần luận đoán) và Hào Thế (Bản thân người cần luận đoán) trong quẻ…

        Bộ này sau khi bạn đã nghiên cứu qua cuốn Tăng San Bốc Dịch thì nên tiến hành đọc để hiểu một cách sâu sắc các yếu tố cần sử dụng để luận quẻ

        Tăng San Bốc Dịch Quẻ Bình – Một tác phẩm giải thích lại chi tiết toàn bộ các ví dụ trong quyển Tăng San Bốc Dịch. Điểm mạnh của Dã Hạc là kinh nghiệm luận đoán phong phú, nhưng điểm yếu của cụ lại là phương pháp sư phạm, nên các ví dụ giải thích khá lao thảo và mang tính chất giấu nghề. Chu Lão Tiên Sinh đã dồn hết tâm huyết đúc kết ra 2 bộ sách để giải thích tường tận các vấn đề còn giấu kín trong Tăng San Bốc Dịch là bộ

        Tăng San Bốc Dịch Quẻ Bình – Giải thích, phân tích lại toàn bộ ví dụ trong Tăng San Bốc Dịch.

        Bộ Quẻ Bình này các bạn đọc sau bộ Cổ Bốc, sau khi các bạn đã nắm được kiến thức luận đoán cơ bản từ Tăng San, sau khi bạn đã nắm được cơ bản các kiến thức nâng cao và chuyên sâu trong bộ Cổ Bốc Tổng Luận Thiên.

        Nghiên cứu kỹ lưỡng 3 bộ sách này chắc chắn trình độ luận đoán quẻ dịch của bạn đã rất cứng cáp.

        …để nắm thêm một số kỹ xảo cần thiết của từng lĩnh vực chuyên môn.

        Làm được như vậy thì chỉ cần 6 tháng đến 1 năm là các bạn đã có trình độ rất cứng, rất chắc về bộ môn Dự Đoán Lục Hào…

        Các bạn hoàn toàn có thể tự học Kinh dịch thông qua việc mua sách về tự học, cổ học cung ứng đầy đủ các đầu sách lục hào cần thiết cho quá trình học kinh dịch của bạn. Trong quá trình tự học kinh dịch, nếu có thắc mắc, bạn có thể inbox cho Cổ học qua số Zalo (098 184 15 66) để Cổ học được trao đổi kinh nghiệm học tập cùng với bạn.

        Có nhiều cách học Kinh Dịch, phổ thông nhất có 2 con đường:

        Cách thứ nhất: Học phần kinh nghĩa trước – Kinh nghĩa chính là những lời quẻ lời hào. Học theo lối này là một vài ngày đọc 1 quẻ, cố gắng từ hào từ, quẻ từ để tìm ý thật của cổ nhân, những điều mà cổ nhân muốn nói về từng quẻ…

        Cách thứ 2: Đây là cách trực tiếp nhất, đi vào học bói theo Kinh Dịch Lục Hào hoặc bói theo Mai Hoa Dịch Số, từ việc dùng bói để chiêm nghiệm ra sự vật sự việc thì nâng cao 1 bước là thế nếu dùng nguyên quẻ đó, mà không dùng Lục Hào hay Mai Hoa, thì có đoán ra được như vậy không…

        Học Kinh Dịch trên cơ bản sẽ có 2 cách tiếp cận như vậy. Mọi người có thể tùy chọn theo sở thích cá nhân của mình. Mọi người nên nhớ, chính các bạn phải quyết định mình sẽ Học Kinh Dịch như thế nào, không ai có thể quyết định thay bạn, dù họ có thể là bậc đại sư.

        Chia sẻ từ Giả Bỉnh Nhiên Tiên Sinh

        Giả Bỉnh Nhiên là một bậc thầy về môn Bói Dịch Lục Hào, hiện rất nhiều đầu sách của ông đã được dịch ra việt ngữ như:

        Ngày tháng thoi đưa, quay đầu mình học Dịch thấm thoắt đã hai mươi năm nóng lạnh. Hai mươi năm một lòng học Dịch, ở giữa ngọt bùi cay đắng, thực sự không đủ mà nói…

        Cho đến hôm nay, Bỉnh Nhiên mặc dù không dám nói Dịch đạo đại thành, nhưng đối với chỗ tinh túy của “Kinh Dịch”, cũng coi như có chút lĩnh ngộ, đối với Dịch học dự đoán, nhất là Lục hào dự đoán, cũng miễn cưỡng tính là đăng đường nhập thất.

        Có cảm giác hiện nay trong giới Dịch Học thực sự rất hỗn loạn, mắt thấy rất nhiều người tuy mới học nhưng rất có chí khí, như Bỉnh Nhiên lúc trước, tao ngộ qua rất nhiều cảm xúc như mê man và khốn đốn, bàng hoàng bất lực, bồi hồi nghi ngờ, dẫn tới sinh ra hoài nghi đối với giá trị của Kinh Dịch, độ tin cậy của Lục Hào Dự Đoán Học, Bỉnh Nhiên cảm giác trong lòng có sự cảm thông!

        Bỉnh Nhiên cảm động vì Bỉnh Nhiên cũng từ trên con đường này đi tới, mỗi lần quay đầu thì cảm giác sợ hãi không thôi. Một đường gai góc, khắp nơi đều là cạm bẫy, đáng sợ nhất là rất nhiều tiền bối vô lương cố ý đào xuống cạm bẫy, không cẩn thận rơi vào, dễ có khả năng không cách nào thoát thân…

        Năm ngoái, một Dịch hữu đã học Dịch vài chục năm, tuyên bố từ bỏ nghiên cứu, điều này khiến Bình Nhiên cực kì xúc động. Còn có bao nhiêu người học Dịch sẽ kết thúc như thế?

        Hồi tưởng mình học Dịch gian khổ, chỉ sợ sẽ không phải là ít! Mỗi khi nghĩ đến lại như có cái gì chẹn ở cổ, không buồn không vui. Suy đi nghĩ lại, cuối cùng quyết định đem hai mươi năm tâm đắc của bản thân đưa ra, để mọi người có phương hướng chính xác. đồng thời cũng đem quá trình mình học Dịch lục lọi lại. kinh nghiệm tránh đi cạm bẫy mà tiền nhân đã bày bố như thế nào, chia sẻ cho mọi người, để cho những đồng đạo đến sau đường đi có thể nhẹ nhàng hơn một chút.

        Nói thật Bỉnh Nhiên cũng chỉ là người bình thường, lẫn trong đám người cũng chẳng làm người khác chú ý, cho nên có thể có chỗ đột phá, tất cả đều vì khắc khổ học tập. Bình Nhiến học Dịch hoàn toàn là không thầy không bạn mà tự học, cho nên khi mới bắt đầu học Dịch căn bản cũng không có người chỉ điểm, chỉ có thể liên tục mua vào các loại sách vở cổ kim điển tích, sau đó từng giờ từng phút học tập. Nói ra chính Bỉnh Nhiên cũng tự sinh ra cảm giác có chút hoang đường, Bỉnh Nhiên lựa chọn học tập Lục hào dự đoán, chỉ là bởi vì lúc ấy trên thị trường có thể mua được, chỉ có “Tăng San Bốc Dịch”, “Bốc Phệ Chính Tông ” mấy quyến Lục hào cổ tịch mà thôi.

        ” Bốc Phệ Chính Tông” vì không có ví dụ thực tế giải thích, cho nên cuối cùng không có nghiên cứu liền đặt tại một bên. Mà “Tăng San Bốc Dịch ” lại làm cho ta như nhặt được chí bảo, đại lượng thần đoán ví dụ thực tế để cho ta tâm trí mê mẩn. Thế là ta mỗi chữ mỗi câu hấp thu quan điểm tác giả, cũng so sánh ví dụ thực tế lặp đi lặp lại suy nghĩ, hi vọng có một ngày có thể bỗng nhiên quán thông, có thể như Dã Hạc lão nhân tiếu ngạo Lục hào. Nhưng mà hiện thực lại tàn khốc, hồi lâu sau ta phát hiện làm thế nào cũng không thể quan thông nguyên lý trong sách, lúc này bàng hoàng và bất lực, tin tưởng rất nhiều người mới học cũng đều sẽ có trải nghiệm như vậy. Bao nhiêu lần đều nghĩ lùi bước, từ bỏ, mặc dù cuối cùng vẫn kiên trì vượt qua, bất quá vì thế lại hi sinh rất rất nhiều!

        Trải qua quá nhiều ngăn trở và đả kích, Bỉnh Nhiên rốt cục sinh ra một tia hoài nghi, trong sách nói nguyên lý phương pháp có lẽ cũng không phải hoàn toàn chính xác? Suy nghĩ thật lâu, tốt cục nghĩ ra một phương pháp dở hơi nhất để nghiện chứng hoài nghi của mình, đó chính là sự tiêu tốn rất nhiều thời gian cùng tinh lực, tìm tất cả ví dụ thực tế trong “Tăng San Bốc Dịch” và những thư tịch Lục hào khác trích lục xuống làm thành thẻ bài, ghi số thứ – hết thảy đạt được hơn ngàn cái ví dụ thực tế, sau đó dùng ví dụ thực tế để dần dần xác định “Tăng San Bốc Dịch” mỗi một chữ, mỗi một câu nói mà đính chính. Cụ thể phương pháp chính là khi xác định một cái kết luận, kỹ xảo tìm ra tất cả những thứ dính đến kết luận này, kỹ xảo tương quan ví dụ thực tế, sau đó căn cứ nghiệm chứng tình huống mà so sánh, lặp đi lặp lại phỏng đoán, để nắm chắc quan hệ logic trong đó, tìm được một cái “Có thể học chị pháp” khả dĩ nhất. Biết rõ ràng một chữ, một câu, lại nhìn xuống một chữ, câu tiếp theo, sau đó lặp lại trở lên trình tự…

        Đây là một loại phương pháp vô cùng vô cùng thủ công, vì thế Bỉnh Nhiên hao tốn thời gian dài và nhiều tinh lực! Tuy nhiên làm như vậy chỗ tốt cũng dễ lộ ra, dạng này so sánh, tất cả ngụy pháp, lời lẽ sai trái đều không chỗ che thân.

        Công việc này bắt đầu không bao lâu, ta đối với Dã Hạc lão nhân cảm nhận liền từ kính ngưỡng biến thành căm hận. Lấy “Quỷ bên người bất khứ bất an” kỹ xảo phán đoán mà nói, trong một chút ví dụ thực tế,

        Dã Hạc nói: “Há có thể là Thế lâm phá quỷ tại hoạ tiểu tán” không thể dùng cái nguyên tắc này để tiến hành nhưng ở một ví dụ thực tế khác, Dã Hạc lại nói ” Khắc đi quỷ bên người, phu phục lo gì?”. Đây hoàn toàn là pháp tự mâu thuẫn! Mà mâu thuẫn tương tự trong ” Tăng San Bốc Dịch” cũng không phải là tình huống cá biệt ngẫu nhiên xuất hiện, mà là cả quyển sách thông thiên đều là như thế. Tỉ như nguyên tắc “Lục xung bệnh gần sẽ khỏi” ở ví dụ này là tiêu chuẩn, mà đổi thành ví dụ khác lại hoàn toàn không cần.

        Tình huống như vậy gặp phải quá nhiều, để cho ta cuối cùng minh bạch ý vị này chỉ có hai loại khả năng, một loại là Dã Hạc lão nhân căn bản không đoán quẻ, hắn thần đoán ví dụ thực tế chỉ là đàm binh trên giấy, là khi lấy được phản hồi về sau, trong sách bốc lên cho là mình đoán đúng, hướng trên mặt mình thiếp vàng mà thôi. Một loại khác khả năng thì tương phản, là thật sự là hắn đoán quẻ như thần, nhưng hắn căn bản không có đem tâm đắc viết hết ra, ngược lại cố ý dùng một chút lý luận sai lầm giải quẻ, để có thể thuận lợi khiến những người học sau lạc lối. Vô luận là loại tình huống nào, một thân phẩm giá đều đủ để cho người ta rất khinh bỉ.

        Đắc xuất cái kết luận này, Bỉnh Nhiên trọn vẹn dùng mười năm thời gian. Mười năm tuế nguyệt, vì cái này mà bị lãng phí! Tuy nhiên chỗ tốt cũng rõ ràng, Bỉnh Nhiên từ đây đứng nghiêm gót chân, lại cũng sẽ không bị bất luận kẻ nào, bất kỳ cái lý luận gì làm cho mê hoặc, vô luận cổ nhân, người thời nay, truyền thống, tân phái, Binh Nhiên đều sẽ đối xử như nhau, toàn bộ thu tập được cổ kim ví dụ thực tế đến kiểm nghiệm một lần, sách của người bên trong là bổ sung một hai cái ví dụ thực tế làm chứng cớ ta căn bản sẽ không tin, coi như người tuyên truyền được trời hoa bay loạn miệng phun hoa sen cũng vô dụng.

        Chỉ có cái nào đó nguyên lý thật có thể quán thông cổ kim tất cả ví dụ thực tế ta mới có thể tán thành, nếu không ta thà rằng mình đi thông qua thực tiễn, tổng kết, lại thực tiễn, lại tổng kết… Đến lĩnh ngộ chân chính “Có thể học chi pháp”, sẽ không đi mê tín bất kỳ một “Đại sư” lý luận nào.

        Tin hết sách không bằng không sách, Hoàng Cực hào hết thảy kỹ pháp, cuối cùng đều là như thế có được. Đây cũng là Bỉnh Nhiên trong quá trình học Dịch thu hoạch và tâm đắc lớn nhất, cũng không phải nắm giữ một loại thần kỳ kỹ pháp nào đó, mà là nắm giữ một phương hướng chính xác có thể phân rõ thật giả, sẽ không bị lừa dối. Như thế mặc dù đi chậm rãi một chút, nhưng chỉ cần có thể kiên trì đi xuống, liền nhất định có thể đến thành công bỉ ngạn. Bỉnh Nhiên hai mươi năm tâm đắc thể ngộ Lục hào cao cấp thực chiến kỹ pháp, kỳ thật quyển sách trước ” Lục hào tẩy tủy ” đã giới thiệu rất kỹ càng, nhưng là chỉ có dạng này là không đủ, cái này hoàn toàn không đủ để thủ tín tại người, cũng đồng dạng không đủ lấy thủ tín tại mình. Bổn hệ liệt sở dĩ tụ tập cổ kim đại lượng ví dụ thực tế, chính là để chứng minh những kỹ xảo này là đường tắt duy nhất: Chính là dùng một loại kỹ pháp, đến quán thông hết thảy cổ kim ví dụ thực tế!

        Giả Bỉnh Khiên, tháng Đinh Hợi năm Canh Dần

        Chia sẻ từ Chu Thần Bân Lão Sư

        Cổ nhân sáng tạo ra Chu Dịch có thể nói bác đại tinh thâm, nó chẳng những là tinh túy triết học mà còn có tính thực dụng cực mạnh, là một trong những nền tảng đặc biệt thai nghén ra văn minh đông phương.

        Một bộ ” Dịch kinh ” hàm chứa không chỉ triết luận uyên thâm vô tận, mà còn là công cụ đặc biệt thực dụng để dự báo và nắm bắt tương lai, công hiệu thần kỳ làm cho người đời kinh thán không thôi. Sớm tại thời kì Thương Chu, cổ nhân đã phát hiện công hiệu dự đoán thần kỳ của Kinh dịch, từ đó kỳ nhân dị sĩ liền bắt đầu xâm nhập tìm tòi nghiên cứu quy luật trong Dịch, mưu cầu giải thuật, đoán định thiên cơ…

        Trăm ngàn năm qua, trải qua các triều đại đổi thay, Dịch Học tiên hiền người trước ngã xuống, kẻ sau tiến lên, một lòng cùng nhau tổng kết thực tiễn đã khiến cho Kinh Dịch dần dần chuyển biến thành một hạng mục có thể vì nhân loại dự báo và nắm chắc xu thế tương lai, là công cụ thực dụng có lợi cho việc xu cát tị hung.

        Rất nhiều kinh điển cổ dịch đã được sinh ra như Đường mạt Tống sơ ” Hỏa Châu Lâm “, đời Minh ” Hoàng Kim Sách “, đời nhà Thanh ” Tăng San Bốc Dịch “, ” Bốc Phệ Chính Tông “. Trong đó càng đáng nhắc tới chính là Lý Văn huy tinh chỉnh ” Tăng San Bốc Dịch “, cuốn sách này là chỉnh lý trên cơ sở bản chép tay ” Dã Hạc bí truyền ” của cao nhân dự đoán dân gian Dã Hạc lão nhân thời Thanh sơ.

        Nghe nói nguyên tác giả tên là Đinh Diệu Cang, tự là Dã Hạc, chính là nhân sĩ thời Minh mạt Thanh sơ, xuất thân danh môn, sau trở thành thi nhân, văn học gia, kịch gia và tiểu thuyết gia trứ danh thời Minh mạt Thanh sơ.

        Từ học thuật trong sách, có thể thấy người này nghiên cứu Kinh dịch mấy chục năm, đọc nhiều sách vở, kiến thức uyên bác, dùng Chu Dịch cổ bốc giúp người bài ưu giải nạn, lịch duyệt phong phú tích đức vô số, lúc tuổi già thoái ẩn làm ra cuốn sách này, tổng kết phương pháp xem bói thực dụng quy nạp chỉnh lý lưu lại cho hậu nhân.

        Trong sách cổ tất cả đều là kinh nghiệm bí truyền, tên sách là ” Dã Hạc bí truyền “, hoặc vì lý do bí truyền nên đương thời cũng không phổ biến trong dân gian. Lý Văn huy và đồng hương Lý Ngã Bình ngẫu nhiên nhờ cơ duyên lấy được bản chép tay này, lập tức tiến hành nghiên cứu, phát giác thấy linh nghiệm cực kỳ, lòng mang cảm kích, lòng cũng mang chính khí không cam lòng độc hưởng, thế là đem chỉnh lý thành sách mà xuất bản, tên là ” Tăng San Bốc Dịch “, hai người sùng kính Dã Hạc, sách cổ kí tên vẫn là Dã Hạc lão nhân, cũng không có háo danh.

        Từ đó một bộ Lục hào dự đoán có tính thực dụng cực mạnh cuối cùng cũng thấy được mặt trời, mấy trăm năm qua chỉ dạy vô số người hữu duyên học được đạo xem bói dự đoán, dự báo tương lai mà biết xu cát tị hung cải thiện nhân sinh quỹ tích, thực sự công đức vô lượng.

        Trong sách bằng vào ngôn ngữ thật thà, nghiêm cẩn, tác phong thiết thực, ví dụ đoán quẻ chân thực, lý luận phân tích tinh giản mà có hiệu suất cao, phân loại các loại sự tình, cho nên nhảy lên trở thành thư tịch kinh điển nhất trong lịch đại Chu Dịch cổ bốc dự đoán luận thuật. Có thể nói ba đồng xu nơi tay, biết hết huyền cơ vạn sự.

        Vì trong sách nguyên tác giả Dã Hạc lão nhân vốn không phải là thầy giáo, quy nạp Lục hào không có quá nhiều lý luận, tổng kết cũng khó làm được thành hệ thống hoàn chỉnh, trình bày lý luận rất có tác phong “chuồn chuồn lướt nước”, càng có một số lý luận cá biệt chưa đúng, nhưng tám thành tinh hoa lý luận lại ẩn giấu cực sâu tại hơn 400 quẻ ví dụ trong sách, như vàng chôn dưới cỏ lau khắp nơi trên đất, lại không lộ ra trước mắt người đời.

        Nếu có thể không ngừng tiến hành nghiên cứu, thực tiễn và tổng kết, không ngừng từ đó hấp thu và tinh luyện Lục hào thực dụng tinh hoa lý luận, không ngừng ứng dụng nghiệm chứng, kỹ năng dự đoán tự nhiên có thể tiến triển phi phàm.

        Ta thường nói với mọi người, nghiên cứu ” Tăng San ” không thể theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa, chỉ đọc mà không nghĩ, càng không thể chỉ xem lý luận mà coi nhẹ quẻ ví dụ trong sách, cái này không thể nghi ngờ chẳng khác gì là lấy gùi bỏ ngọc, không nhập bảo sơn.

        Càng làm cho người ta kính nể là thái độ nghiêm cẩn nghiên cứu học vấn của Dã Hạc lão nhân, trong sách liệt kê tất cả quẻ ví dụ đều là quẻ dự đoán chân thực, không có bất cứ một ví dụ hư cấu nào, chính vì tất cả đều là quẻ ví dụ thật, không có bất kỳ cái gì bịa đặt, cho nên có giá trị nghiên cứu cực mạnh. Chỉ cần có thể đem hơn 400 quẻ ví dụ trong sách chân chính suy nghĩ thấu triệt, thông thường xác suất dự đoán chính xác sự vật, sự việc khoảng 85% cũng không có vấn đề. Đối với người mới học mà nói, đây cũng là một bản tài liệu giảng dạy Lục Hào Dự Đoán tuyệt hảo.

        Đương nhiên tìm tòi nghiên cứu đến bây giờ, phát hiện cuốn sách này cũng tồn tại nhất định thiếu hụt, tỉ như quẻ ví dụ có tính hạn chế nhất định, nhưng đối với giá trị toàn diện của quyển sách mà nói, đây chỉ có thể coi là một khuyết thiếu nhỏ, bởi vì khi nghiên cứu đến chiều sâu nhất định sẽ không chỉ thoả mãn với việc hấp thu lý luận của người khác, mà sẽ không ngừng từ trong thực tế tìm kiếm và sáng tạo thứ thuộc về chính mình, học giả có học thành tựu đa phần không thể thoát khỏi giai đoạn kinh lịch gian tân này.

        Trong sách tôn sùng chính là một chuyện một quẻ lý niệm, Dã Hạc lão nhân cả đời nghiên Dịch dụng Dịch, kinh lịch mấy chục năm đến lúc tuổi già mới viết được cuốn sách này, tuyệt đối là kinh nghiệm kinh điển.

        Hi vọng người mới học có thể từ việc bình các quẻ trong quyển ” Tăng San ” của ta có được thu hoạch của mình.

        Chu Thần Bân – Chu Lão Tiên Sinh

        Các đầu sách của Chu Lão Tiên Sinh đã được dịch ra việt ngữ, thân mời các đạo hữu tham khảo

        Tăng San Bốc Dịch Quẻ Bình – Thượng Thiên

        Lời bàn của chúng tôi

        Giả Bỉnh Nhiên hay Chu Thần Bân đều là 2 lão sư đáng kính. Tuy cùng một tác phẩm, cho ra 2 quan điểm khác nhau. Người thì cho rằng Dã Hạc dấu nghề, đi tìm con đường khác. Người thì cho rằng dưới nét bút đơn sơ có phần lao thảo, là cả trời kiến thức, từ đó đi sâu phân tích nghiên cứu…

        Khó có thể nói ai đúng ai sai, tuy nhiên, nếu cần phải nêu chính kiến, thì Cổ Học cho rằng, người hậu học chúng ta, khi đứng trước bất kỳ một văn bản, 1 vấn đề nào, đều cần phải nỗ lực phân tích để từ đó có thể thấu triệt chúng, vận dụng chúng, biến chúng thành công cụ để sử dụng trong công việc của mình…

        Chúc cả nhà học tập thành công!

        Bạn đang đọc nội dung bài viết Tử Vi Là Gì? Nguồn Gốc Của Tử Vi Được Xuất Phát Từ Đâu? trên website Duanseadragon.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!